Chương 2: Bà Nhạn kể
Người cuối cùng là bà cụ ở giường dưới bên trái. Bà ngồi thẳng lưng, áo len mỏng màu cà phê sữa, cặp kính lão đeo dây vòng sau cổ, hai tay đặt trên cái giỏ đan bằng cói. Bà tên Khúc Thị Nhạn, bảy mươi mốt tuổi, ba mươi lăm năm làm kế toán ở một xí nghiệp đông lạnh Nha Trang, ra Hà Nội thăm đứa cháu nội mới sinh.
Bà nói chậm, rõ, như đọc số liệu.
– Tôi già rồi, ngủ ít. Tối qua tôi nằm nghe hết, chỉ không mở mắt vì sợ làm phiền người ta. Tôi kể theo giờ, vì tôi đeo đồng hồ có dạ quang.
– Mười giờ, cô Thuỳ leo lên giường. Trước đó, lúc tàu mới chạy, cô nhờ tôi giữ giùm cái thùng xốp cho cô dán băng keo lại cho chắc. Tôi giữ. Cô dán hai đường băng keo trong, chéo nhau thành chữ thập trên nắp thùng, rồi một vòng quanh hông. Tôi nhớ vì cô dán lệch, tôi còn chỉ cho cô.
– Một giờ rưỡi, tàu đỗ Diêu Trì. Cậu Phát leo xuống, đi ra. Cậu đi ra thì cô Thuỳ hỏi nhỏ: ga gì vậy ta. Không ai trả lời. Rồi tôi nghe cậu Phát nói điện thoại ngoài cửa sổ, chữ được chữ mất, có tiếng má. Tàu chạy thì cậu vô.
Chị Thuỳ ngắt lời.
– Bà nghe lộn rồi. Em uống thuốc ngủ.
– Có thể. – Bà Nhạn nói, không cãi. – Tôi xin kể tiếp. Ba giờ kém mười, anh Ninh dậy đi vệ sinh, cửa khoang mở rồi đóng. Ba giờ kém năm, có người trên giường trên bên phải leo xuống. Tôi biết là giường bên phải vì cái thang bên phải kêu cót két, cái thang bên trái thì không. Người đó cúi xuống chỗ giường anh Ninh. Rồi cúi xuống chỗ gầm giường tôi. Tôi nghe tiếng băng keo bị bóc ra, rồi tiếng xốp kêu ken két, rồi tiếng băng keo bị kéo ra dán lại, ba lần. Rồi có tiếng cửa sổ toa được kéo xuống một chút, gió lạnh lùa vào, rồi kéo lên. Người đó leo lên lại. Hai phút sau, anh Ninh về.
– Bà nằm nhắm mắt thì sao bà biết là ai? – Chị Thuỳ hỏi.
– Tôi không biết là ai. – Bà Nhạn nói. – Tôi chỉ biết là cái thang bên phải.
Anh Tuệ nhìn đồng hồ. Sáu giờ hai mươi hai.
– Bác có thấy gì nữa không ạ?
– Có hai cái nữa, tôi xin nói cho đủ.
Bà Nhạn đeo kính lên mắt, cúi xuống gầm giường, chỉ vào cái thùng xốp.
– Cái thứ nhất. Tối qua cô Thuỳ dán băng keo hai đường chéo chữ thập, một vòng quanh hông, tôi giữ thùng cho cô dán. Bây giờ anh nhìn đi. Trên nắp thùng có bốn đường. Hai đường chữ thập cũ đã bị rạch đứt ở giữa. Hai đường mới dán đè lên, thẳng song song, không chéo. Cô Thuỳ nói thùng dán niêm phong từ Nha Trang, ai mở thì khách không nhận. Vậy ai đã mở nó đêm qua?
Anh Tuệ cúi xuống nhìn. Chị Thuỳ không cúi.
– Cái thứ hai. – Bà Nhạn nói tiếp. – Cô Thuỳ nói cô uống thuốc ngủ, đeo bịt mắt, ngủ một mạch tới sáng, không biết gì. Nhưng cô vừa nói với anh trưởng tàu rằng cậu Phát xuống Diêu Trì. Diêu Trì là lúc một giờ rưỡi. Người ngủ một mạch tới sáng, sao biết tàu đỗ ga nào, sao biết ai xuống?
Không ai nói gì. Tàu lắc nhẹ khi qua một đoạn ghi. Ngoài cửa sổ, đồi cát đã thay bằng những ruộng lúa xanh thẫm, lác đác mái nhà.
– Tôi không biết cô Thuỳ có lấy hay không. – Bà Nhạn nói, tháo kính ra. – Tôi làm kế toán ba mươi lăm năm, tôi chỉ quen đối chiếu. Hai con số không khớp thì tôi báo. Còn sổ đúng hay sai, là việc của người kiểm tra.
Anh Tuệ đứng thẳng lên. Anh nói với chị Thuỳ, giọng không gay gắt:
– Chị Thuỳ, tôi đề nghị chị mở thùng hàng, có tôi, có nhân viên bảo vệ tàu và ba hành khách trong khoang làm chứng, lập biên bản đầy đủ. Nếu trong đó đúng chỉ có chả cá, hàng chị bị ảnh hưởng thế nào, đường sắt sẽ làm việc với chị theo quy định. Còn nếu chị không đồng ý, khi tàu vào ga Đà Nẵng, tôi sẽ đề nghị công an ga có mặt để làm việc. Chị chọn.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám