Chương 2: Đêm mưa tháng Tư
Tháng Ba.
Chị Đoan đặt hai mươi tấn trước, chuyển cọc ba mươi triệu, hẹn tháng Năm cho xe tải ra chở, vì tháng Năm nhà thùng chị vào mùa cá cơm. Hai mươi tấn, mười tấn còn lại chị bảo để dành cho chị năm sau, đừng bán cho ai.
Nghĩa dựng lại cái kho. Anh thay hai tấm tôn thủng, chèn lại chân vách bằng gạch, mua bạt phủ lên đống muối cho chắc. Bà Ngãi đứng nhìn, không nói gì. Thằng Lộc nhà bên qua phụ, vừa leo lên mái vừa than: kho nhà bà Ngãi già hơn nó.
Rồi Nghĩa bắt đầu làm một việc mà cả xóm muối thấy lạ. Mỗi ngày thu muối mới, anh để lại một phần, chừng hai phần mười, chất thành đống riêng trong một góc kho, cắm một cọc tre, ghi ngày tháng bằng sơn. Hết tháng Ba, góc kho có bảy cọc tre. Anh nói với bà Ngãi: ba năm sau, mấy đống này sẽ thành muối nghỉ.
– Ba năm sau mày còn ở đây không? – Bà hỏi.
Anh không trả lời. Anh không biết.
Đêm đó anh mở lại cuốn sổ, gạch bỏ trang kế hoạch sáu chục ngàn hũ muối. Bên dưới, anh viết mấy con số mới: muối mới một ngàn ba, muối nghỉ ba năm sáu ngàn, mỗi năm hao chừng một phần mười vì nước ót chảy ra. Anh tính đi tính lại, thấy con số không lớn, nhưng là con số sống. Rồi anh gạch luôn cái tên thương hiệu đã nghĩ, chỉ ghi: kho bà Ngãi.
Tháng Tư.
Đầu tháng Tư, đài báo một đợt không khí lạnh tăng cường, có mưa trái mùa ở Nam Trung Bộ. Diêm dân Hòn Khói ai cũng biết đợt mưa tháng Tư là đợt dữ nhất, vì nó tới giữa mùa, muối trên ruộng chưa kịp gom.
Chiều mùng bảy, trời đặc lại một màu chì. Gió từ biển thốc vô, mang theo mùi tanh của rong. Cả xóm chạy ra ruộng, cào muối dồn đống, lấy bạt phủ, lấy đá đè. Bà Ngãi cào đến khi trời tối không còn thấy tay.
Mưa xuống lúc mười giờ đêm. Không phải mưa, mà là trút. Nghĩa đứng ở hiên, rọi đèn pin ra phía ruộng, chỉ thấy một màn nước trắng xóa. Rồi anh nghe một tiếng rầm ở phía sau nhà.
Anh chạy ra kho. Một tấm tôn cũ ở góc mái, tấm anh không thay vì thấy còn tốt, bị gió lật tung, đập vào vách. Nước mưa đổ thẳng xuống đỉnh đống muối ba năm qua cái lỗ to bằng cái chiếu. Muối tan. Anh thấy nó tan, từng mảng trắng chảy thành dòng nước đục xuống chân đống, chảy ra cửa kho, hòa vào nước mưa ngoài sân.
Anh leo lên đống muối, kéo tấm bạt phủ lên chỗ nước đổ. Gió giật tấm bạt khỏi tay anh. Anh kéo lại. Lần này có một bàn tay nắm lấy mép bạt bên kia.
Thằng Lộc. Rồi ông Tư Nhứt, ông Bảy Đờn, vợ chồng chị Tám Huệ, mấy thằng con trai nhà ông Năm. Người ướt sũng, đèn pin buộc trên đầu, có người còn chưa kịp mặc áo. Không ai gọi họ. Họ nghe tiếng tôn đập.
– Bạt không đủ đâu! – Ông Tư Nhứt la lên trong mưa. – Phải xúc ra! Xúc qua nhà văn hóa! Nhà văn hóa mái bê tông!
Nhà văn hóa xóm cách kho hai trăm mét. Đêm đó, gần hai chục người, gánh, xúc, khiêng, chở bằng xe rùa, bằng thúng, bằng bao tải, bằng cả cái thau nhôm của chị Tám Huệ, chuyển muối từ kho nhà bà Ngãi qua nhà văn hóa trong mưa. Đường đất lầy tới mắt cá. Muối trong thúng ướt mưa nặng gấp đôi. Nghĩa gánh đến chuyến thứ hai mươi mấy thì vai sưng phồng, đến chuyến thứ ba mươi thì không còn cảm thấy vai nữa.
Bà Ngãi đứng ở cửa nhà văn hóa, cầm đèn pin chỉ chỗ đổ: đống muối khô để riêng phía trong, đống muối ướt để riêng phía ngoài, không cho ai trộn.
Bốn giờ sáng, mưa ngớt. Kho trống trơn. Trong nhà văn hóa, sát vách bức tường còn treo tấm phông đỏ từ buổi mừng thọ các cụ hồi Tết, là hai đống muối, một đống trắng khô, một đống xám ướt sũng nước.
Nghĩa ngồi bệt xuống nền xi măng, thở. Ông Tư Nhứt đưa anh điếu thuốc, anh không hút, nhưng cầm.
– Hồi ông nội mày còn, – ông nói – mùa mưa nào ổng cũng qua lợp lại mái kho cho cả xóm. Ổng nói muối là của biển cho, mất thì tiếc lắm.
— Hết chương 2 —

🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe