Chương 1: Ba năm ngã ngửa
Năm thứ ba anh Dần ngã ngửa giữa sới, cả hội vật làng Đông Liễu cười ồ lên như vỡ chợ. Chỉ có tôi là không cười. Tôi đứng gần nhất, và tôi thấy anh nháy mắt với con trâu.
Con trâu ấy là con nghé giải nhất, buộc ở cọc tre đầu sới. Nó đứng nhai cỏ, chẳng biết gì. Anh Dần nằm ngửa giữa sới cát, mắt nhìn lên trời, rồi liếc sang nó, nháy một cái. Như bảo: thôi, năm nay cũng không phải mày.
Tôi là Sấu, Mạc Thị Sấu, con gái lý trưởng làng Đông Liễu. Năm ấy tôi mười tám. Việc của tôi ở hội vật là đứng ở mép sới, tay cầm một chồng khăn đỏ. Đô nào vào trận thì tôi thắt khăn ngang lưng cho đô ấy. Đô nào thắng trận cuối thì được giữ cái khăn, được dắt con nghé về, và được làng mời lên chiếu trên ăn cỗ.
Cái khăn đỏ ấy tôi tự dệt, nhuộm bằng củ nâu với lá chàm pha phèn, ra một thứ đỏ sẫm như máu gà. Năm nào cũng dệt đúng một cái dành riêng cho trận cuối, mép khăn có thêu một bông hoa sấu nhỏ bằng chỉ trắng. Không ai biết. Chỉ người cầm khăn về mới biết.
Ba năm nay, người cầm khăn về là ba người khác nhau. Người thua trận cuối cả ba năm là một người: anh Dần, Đỗ Văn Dần, hai mươi bốn tuổi, nhà bán đậu phụ ở xóm Chùa.
Cả làng ai cũng biết anh Dần là đô giỏi nhất Đông Liễu. Vai anh rộng như cánh cửa đình, cổ chân to như cột nhà, sáng nào cũng gánh hai thùng đậu nặng trĩu đi khắp ba xóm mà không đổi vai. Anh vào hội vật năm mười chín tuổi, hai năm đầu còn non tay, thua ở vòng giữa. Rồi năm thứ ba anh vào tới trận cuối, đang thế thắng, anh tự dưng trượt chân ngã ngửa. Năm thứ tư cũng vậy. Năm thứ năm cũng vậy.
Người ta bảo anh Dần sợ trận cuối. Người ta bảo anh Dần vật giỏi mà không có gan. Mấy bà bán hàng nước dưới gốc đa còn đặt cho anh cái tên: Dần Ngã Ngửa.
Tôi thì biết vì sao.
Mùa xuân năm tôi mười lăm, cha tôi uống rượu với các cụ trong làng, khoe trước mặt cả chiếu rằng đô nào vô địch hội vật ba năm liền thì cha gả con Sấu cho. Cha nói đùa. Cha tôi ngà ngà thì cái gì cũng hứa. Nhưng cả làng nghe, và cả làng nhớ.
Hôm sau, ra giếng gánh nước, tôi gặp bọn con gái xóm dưới trêu. Chúng nó bảo: Sấu ơi, mày sắp thành con nghé thứ hai rồi, đô nào thắng là dắt về. Tôi giận, đỏ mặt tía tai, đặt đôi thùng xuống nói to cho cả giếng nghe: "Tao không phải con nghé. Đứa nào thắng vật mà dắt tao về thì tao nhảy giếng."
Tôi không biết anh Dần đứng sau gốc gạo bên kia giếng, đang chờ múc nước ngâm đậu.
Năm đó anh vào tới trận cuối lần đầu tiên. Lần đầu tiên anh ngã ngửa.
Tôi mất cả năm mới nghĩ ra hai chuyện ấy dính vào nhau. Năm thứ hai, tôi thấy anh ngã đúng vào lúc sắp bốc được chân đối thủ, và tôi bắt đầu ngờ. Năm thứ ba, anh nháy mắt với con trâu, thì tôi biết chắc.
Anh ngã cho tôi khỏi phải nhảy giếng.
Mà tôi thì chẳng biết nói với anh thế nào. Con gái lý trưởng không thể ra chợ đứng trước gánh đậu phụ mà bảo: anh ơi, em nói đùa đấy, năm sau anh thắng đi. Thắng thì sao? Thắng ba năm liền thì sao? Nói thế khác gì bảo anh đến dắt em về.
Nên tôi im. Sáng nào anh cũng gánh đậu qua cổng nhà tôi, rao một tiếng "đậu phụ nóng đây" trầm như tiếng mõ, không to hơn, không nhỏ hơn trước cổng nhà khác. Mẹ tôi ra mua hai bìa. Tôi đứng sau khung cửi, nghe tiếng rao đi xa dần. Năm nào tôi cũng dệt một cái khăn đỏ có bông hoa sấu trắng. Năm nào cái khăn ấy cũng về tay người khác.
Năm nay thì khác.
Rằm tháng Chạp, một đoàn người cưỡi ngựa từ phủ thành xuống làng. Đi đầu là một gã đàn ông to như hộ pháp, da đen bóng, ngực xăm hình con trâu húc. Người ta gọi gã là Báo Đen, đô vật của bang Hắc Ngưu, bang hội giữ mấy bến sông dưới phủ. Gã đi thẳng tới nhà cha tôi, đặt lên bàn một cái hộp gỗ đựng hai chục nén bạc.
– Hội vật năm nay, tôi xin vào, – gã nói. – Tôi thắng thì bến đò Đông Liễu về tay bang Hắc Ngưu ba năm. Tôi thua thì hai chục nén bạc này là của làng.
Cha tôi nhìn hộp bạc. Bến đò là nguồn thu lớn nhất của làng, tiền qua đò nuôi cả trường học lẫn mấy cái giếng. Cha tôi lắc đầu. Báo Đen cười, rồi nói chậm từng chữ:
– Lý trưởng không nhận thì năm sau bang Hắc Ngưu mở đò ở bến dưới, cách đây nửa dặm, giá rẻ một nửa. Lúc ấy bến của làng còn ai qua?
Cha tôi ngồi im rất lâu. Rồi cha bảo tôi đi pha trà. Lúc tôi bưng trà ra, cha đã nhận lời.
Tối ấy, cha gọi tôi vào, mặt nhăn như quả táo tàu.
– Sấu ơi, – cha nói. – Cả làng chỉ có thằng Dần là vật nổi thằng Báo. Mà thằng Dần ba năm nay cứ đến trận cuối là ngã ngửa.
— Hết chương 1 —
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu