Chương 3: Lần thi thứ ba
Tối hôm đó, Hợi về nhà sớm. Mẹ chồng đang ngồi dưới bóng đèn tuýp, khâu cái tạp dề. Cái hộp thiếc sơn xanh nằm bên cạnh.
Hợi đứng ở cửa, chưa cởi dép.
– Mẹ lên Hà Nội làm gì sáng nay?
Bà Tầm khâu thêm hai mũi nữa, rồi mới đặt cái tạp dề xuống.
– Đi lễ.
– Lễ ở trung tâm thi tiếng Đức à mẹ?
Bà im. Hợi bước vào, ngồi xuống cái ghế đối diện, nhìn cái hộp kim khâu. Cái đầu người bằng đồng trên nắp, cô nhìn hai năm nay mà chưa bao giờ hỏi.
– Cái hộp này mẹ mua ở đâu?
Mãi một lúc lâu, bà mới trả lời. Bà nói bằng tiếng Việt, rồi, như người lỡ mở một cánh cửa đóng lâu ngày, bà nói thêm một chữ tiếng Đức, cái tên một thành phố, phát âm tròn và gọn như người ở đó.
– Karl-Marx-Stadt. Năm tám mươi bảy. Tháng lương đầu tiên.
Năm ấy bà hai mươi tư tuổi, đi theo diện hợp tác lao động, vào làm ở một nhà máy dệt. Ba năm đứng máy, ca ba, mùa đông tuyết ngập cửa ký túc xá. Bà học tiếng Đức bằng cách nghe đốc công quát, nghe radio, nghe bà cụ người Đức ở tầng dưới kể chuyện chiến tranh. Bà mua cái hộp kim khâu ở một cửa hàng bách hóa gần nhà máy, vì nó có hình cái tượng đầu ông Mác to tướng ở trung tâm thành phố, thứ bà đi ngang mỗi sáng.
– Rồi năm chín mươi thì nhà máy đóng cửa. – Bà nói, tay mân mê cái nắp hộp. – Nước người ta đổi tên, thành phố đổi tên. Người mình kẻ ở lại, kẻ về. Tao về.
– Còn ai ở lại hả mẹ?
Bà Tầm nhìn con dâu. Ánh mắt bà lần đầu tiên không cứng.
– Một người. Cùng tổ máy. Hai đứa định cưới. Anh ấy bảo anh ở lại làm thêm vài năm, có giấy tờ rồi đón em sang. Đoàn tụ. Chữ đấy tao nghe lần đầu là từ anh ấy.
– Rồi sao hả mẹ?
– Thì không đón. – Bà nói gọn lỏn, như nói giá cá. – Ba năm đầu có thư. Năm thứ tư hết thư. Năm thứ năm tao lấy bố thằng Đằng, một ông thợ máy tàu ở cảng, hiền, chẳng biết chữ Đức nào. Ông ấy mất sớm. Tao bán cá nuôi thằng Đằng. Rồi nó lớn, nó lại đi Đức. Đời nó buồn cười thế đấy.
Hợi ngồi im. Bên ngoài con mèo nhà hàng xóm kêu một tiếng dài.
– Thế nên mẹ không muốn con đi.
– Tao không muốn mày chờ. – Bà nói. – Tao không muốn mày học xong một thứ tiếng, rồi ngồi đây chờ một cái giấy, chờ năm này qua năm khác, rồi một ngày hết thư. Ba mươi mấy năm tao không nói một chữ tiếng Đức nào. Ai hỏi tao đi Đức về được gì, tao bảo được cái máy khâu. Thế thôi.
– Thế sao mẹ lại đóng tiền cho con?
Bà Tầm cầm cái tạp dề lên, khâu tiếp, giấu mặt.
– Vì tháng trước tao ra chợ, thấy mày đứng giữa sạp cá, đếm cá bằng tiếng Đức, cả dãy hàng đếm theo. Con mụ Phấn đếm sai bét mà mày không sửa, mày cười. – Bà kéo sợi chỉ. – Hồi xưa tao cũng đứng giữa xưởng, đếm cuộn vải bằng tiếng Đức, mấy con bé cùng tổ đếm theo. Tao nhìn mày mà tao thấy tao. Tao không muốn mày thua vì thiếu ba triệu.
Hai tuần còn lại trước kỳ thi, căn nhà nhỏ trong ngõ thành lớp học.
Bà Tầm không dạy theo sách. Bà dạy theo kiểu người đã sống ba năm trong một thành phố lạ. Sáng ra chợ, bà ngồi ở sạp cá cạnh Hợi, đóng vai khách hàng người Đức, hỏi giá, mặc cả, phàn nàn cá không tươi, bằng thứ tiếng Đức có giọng vùng Sachsen, đầy những chữ cũ mà sách bây giờ không còn dùng. Hợi phải trả lời. Sai thì bà gõ cái móng tay xuống mép mẹt. Bà Phấn bên cạnh há hốc mồm, rồi đi kể khắp chợ là bà Tầm bị trúng gió nói tiếng Tây.
Tối, bà ngồi khâu, bắt Hợi nghe bài luyện nghe, rồi kể lại bằng tiếng Đức. Bà dạy cô nghe những con số trước, vì người ta luôn đánh đố bằng giờ giấc và giá tiền. Bà dạy cô nhắm mắt khi nghe, đừng nhìn tờ giấy.
– Hồi xưa đốc công quát tao, tao có tờ giấy nào đâu mà nhìn. – Bà nói.
Có một tối, Đằng gọi về đúng lúc hai mẹ con đang tập. Anh nghe mẹ mình nói tiếng Đức, nói một câu dài, trôi chảy, giọng còn chuẩn hơn ông chủ nhà hàng của anh. Anh làm rơi cái điện thoại vào bồn rửa bát. Năm phút sau anh gọi lại bằng điện thoại của đồng nghiệp, câu đầu tiên là:
– Mẹ! Mẹ biết tiếng Đức từ bao giờ?
– Từ trước khi mày biết đi. – Bà Tầm nói, rồi đưa máy cho con dâu, đi vào bếp.
Lần thi thứ ba, Hợi bắt chuyến xe khách bốn giờ sáng. Mẹ chồng dậy trước cô, luộc cho cô hai quả trứng, gói trong cái khăn mùi xoa, dặn đúng một câu bằng tiếng Đức. Cô hỏi nghĩa là gì. Bà bảo vào phòng thi thì mày biết.
Phần nghe, cô nhắm mắt. Những con số rơi vào tai từng con một, như cá đổ vào mẹt. Phần nói, ông giám khảo tóc bạc vẫn là ông giám khảo lần trước. Ông nhận ra cô, mỉm cười, đưa cho cô một tấm thẻ.
Trên thẻ vẽ một cây kim và một cuộn chỉ.
Hợi nhìn tấm thẻ, và cô thấy cái hộp thiếc sơn xanh, thấy bàn tay to sẹo vảy cá của mẹ chồng xâu kim dưới bóng đèn tuýp. Cô nói, rõ ràng, lưỡi để sau răng ở đúng chỗ phải để:
– Làm ơn, ông có thể đưa cho tôi một cây kim được không?
Câu ấy bằng tiếng Đức, giọng vùng Sachsen. Ông giám khảo tóc bạc ngẩng phắt lên, nhìn cô một lúc, rồi bật cười, nói gì đó với cô giám khảo người Việt. Sau này Hợi mới biết ông nói: chị này học tiếng Đức của bà ngoại tôi.
Bảy mươi mốt điểm.
Visa đoàn tụ có vào đầu mùa đông. Ở sân bay Nội Bài, lúc Hợi chuẩn bị vào cửa an ninh, bà Tầm dúi vào tay cô một cái túi ni lông. Trong túi là cái hộp kim khâu bằng thiếc sơn xanh.
– Mẹ ơi, cái này của mẹ…
– Cầm lấy. Bên ấy cúc áo đứt, chẳng ai khâu cho đâu. – Bà quay đi, nói thêm, giọng nhỏ như sợi chỉ. – Mà mày đi, có chồng mày chờ ở đầu kia. Thế là khác tao rồi.
Ba tuần sau, ở căn hộ hai phòng ngoại ô Hamburg, Đằng đi làm về khuya, cái áo bếp đứt mất một cúc. Hợi lấy cái hộp thiếc ra, mở nắp. Bên trong, giữa những cuộn chỉ đủ màu và mấy cây kim cắm trên miếng nỉ đỏ, có một tấm ảnh đen trắng nhỏ bằng hai đốt ngón tay: một cô gái hai mươi tư tuổi tóc tết, mặc áo khoác dày, đứng trước cái đầu tượng đồng khổng lồ, đang cười to như người vừa trúng số.
Hợi lật tấm ảnh lại. Mặt sau có một dòng chữ bút bi mới viết, nét chữ to và vụng của người bán cá:
"Đứt chỗ nào thì khâu chỗ ấy."
Cô xâu kim. Đằng ngồi xuống cạnh cô, nhìn tấm ảnh, rồi nhìn vợ, rồi hỏi mẹ dặn em câu gì trước hôm thi. Hợi cắn đứt sợi chỉ bằng răng, đúng như mẹ chồng vẫn làm.
– Mẹ dặn: đừng sợ, người ta cũng chỉ là người.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình