Chương 1: Thăm thứ chín
Lần thứ năm cô Diễm ở Cao Lãnh thắng thăm, cũng chỉ hơn người về nhì đúng một ngàn đồng.
Con Thảo đọc to con số, tám trăm hai mươi mốt ngàn, rồi đặt tờ giấy xuống cạnh cái hộp thiếc đựng bánh quy. Trong nhà bà Tư Nguyệt im một chút, chỉ nghe ếch kêu ngoài mương và tiếng cái quạt máy kêu cạch cạch mỗi lần quay về phía bàn thờ. Người về nhì là tôi. Tôi bỏ tám trăm hai chục.
– Trời đất ơi, lại một ngàn! – Chị Sáu Lụa bán vải vỗ đùi. – Con nhỏ Diễm này nó có tay ngoại cảm hay sao vậy bà Tư?
Bà Tư cười móm, lấy cái khăn rằn lau mắt. Mắt bà đục như nước vo gạo, ai trong chợ cũng biết bà bị cườm hai năm nay, đi đâu cũng phải có con cháu dắt. Bà nói con Diễm nó trẻ, nó làm ăn lớn, nó chịu bỏ thăm cao thì nó hốt, vậy thôi, có gì đâu mà la.
Tôi không la. Tôi bán bánh bò thốt nốt ở đầu chợ Sa Đéc ba mươi mốt năm, cái nghề dạy tôi đếm. Một ngàn đồng chưa mua nổi một phần năm cái bánh bò của tôi. Thua một lần một ngàn là xui. Thua hai lần là xui nữa. Nhưng cô Diễm thắng năm lần, lần nào cũng đúng một ngàn, trong khi tôi nhớ rõ ba lần trong năm lần đó người về nhì là ba người khác nhau, bỏ ba con số khác nhau.
Dây hụi của bà Tư có hai mươi phần, mỗi phần năm triệu một tháng, khui vào đêm rằm. Hụi bỏ thăm: ai cần tiền gấp thì viết lên một miếng giấy số tiền mình chịu bớt ra cho cả dây, gấp làm tư, bỏ vô hộp thiếc. Ai bớt nhiều nhất thì hốt. Người trong dây đa phần là bạn hàng chợ: chị Sáu Lụa, ông Ba Xị bán cá kho tộ, vợ chồng thằng Tâm sửa xe, mấy bà bán bông kiểng ven sông. Cô Diễm là người lạ duy nhất. Cô ôm tới năm phần, mà chưa ai thấy mặt.
Bà Tư nói Diễm là bạn làm ăn của thằng Khải con bà, buôn bông kiểng lên Sài Gòn, bận lắm. Cô không xuống được thì gọi điện. Mỗi đêm khui, con Thảo cháu bà đọc hết thăm trong hộp xong, bà Tư cầm điện thoại đi vô buồng trong, nói ngoài này ồn quá, để bà gọi hỏi coi con Diễm bỏ nhiêu. Chừng hai phút bà đi ra, đọc con số. Lần nào cũng vậy. Thăm của Diễm chưa bao giờ là một miếng giấy. Nó là một câu nói vọng ra từ cái buồng có tấm màn hoa.
Tôi gặp thằng Khải đúng một lần trong chín tháng, hồi tháng Sáu, lúc nó chở một ghe cúc mâm xôi ghé bến chợ. Nó cao, đen, cười hiền, mặc cái áo thun bạc màu có in hình con cá. Tôi hỏi thăm cô Diễm bạn nó làm ăn ra sao mà hốt hụi hoài vậy. Nó gãi đầu, nói dạ, con cũng không rành, má con lo chuyện đó. Rồi nó quay đi khuân chậu bông, không nhìn tôi nữa. Hồi đó tôi nghĩ thằng nhỏ mắc cỡ. Chị Sáu Lụa thì nói nhỏ với tôi rằng nghe đâu thằng Khải nợ nần dữ lắm, có lần người ta tới tận nhà bà Tư ngồi chờ từ sáng tới chiều.
Đêm khui thứ chín có mưa giông đầu mùa. Cả dây tới đủ, dép guốc để lổn nhổn ngoài hiên, áo mưa vắt trên hàng rào bông giấy. Bà Tư bày một dĩa bánh phồng tôm với một bình trà nóng, ngồi ở đầu bàn, lưng tựa vô cái tủ thờ. Con Thảo ngồi bên phải bà, cầm cây viết bi xanh để ghi sổ. Tôi ngồi đối diện, ngay dưới cái đèn tuýp. Ai viết thăm thì quay lưng vô vách mà viết, che tay lại, gấp làm tư rồi bước tới bỏ vô hộp. Cái lệ đó có từ hồi bà Tư mới làm chủ hụi, hai mươi năm trước, chưa ai phàn nàn.
Đêm đó trước khi khui, tôi để ý một chuyện nhỏ. Ông Ba Xị móc túi lấy tiền đóng hụi, làm rớt một tờ một ngàn xuống gạch. Cái đèn tuýp trong nhà bà Tư đã lờ mờ, gầm bàn lại tối thui. Tôi còn chưa kịp cúi thì bà Tư đã khom xuống, lượm tờ tiền đưa lại cho ông Ba, nói của ông nè, rớt kìa. Ông Ba cười, khen bà Tư mắt kém mà lượm tiền lẹ hơn ai hết. Cả nhà cười rần. Tôi cũng cười, rồi quên mất.
Tiền hốt của cô Diễm kỳ đó là tám mươi sáu triệu mấy. Ai cũng đóng đủ, bà Tư gom lại, cột thun, nói mai thằng Khải đem lên Cao Lãnh giao. Tôi về nhà lúc mười giờ, đạp xe dọc bờ sông, nghe mùi bông ngâu bên mấy nhà vườn. Tôi nằm nghĩ mãi tới con số tám trăm hai mươi mốt.
Ba hôm sau, sáng mười tám, chưa kịp dọn mẹt bánh, tôi nghe chị Sáu Lụa khóc ở sạp vải. Bà Tư Nguyệt nhắn cả dây: con Diễm hốt đủ năm phần rồi trốn, số điện thoại tắt, bà không còn tiền gánh. Hụi bể.
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám