Chương 3: Cái cân đòn
Sáng hôm sau, ông Rỡ dẫn Thiệu vào gian buồng sau nhà, nơi treo một cái cân đòn bằng gỗ nhãn đen bóng, dài hơn một sải tay. Trên cái móc sắt của cân, hai sợi dây dù đỏ vẫn còn buộc nguyên, đầu dây đã bạc màu. Dưới mỗi sợi treo một cái túi vải nhỏ, khô cong.
– Tao cắt cành hôm hai mươi tháng Năm năm ngoái, trước khi chim ăn. – Ông Rỡ nói. – Đếm, rồi cân, rồi phơi khô hột giữ lại. Tao sợ mày biết.
– Sao lại sợ cháu biết?
– Vì tao gọi ong nhà mày là ruồi suốt một năm giời. – Ông Rỡ gắt lên, rồi hạ giọng. – Mày mở ra.
Thiệu tháo túi thứ nhất, túi buộc dây đỏ có thắt một nút. Bên trong là hột nhãn đen nhánh, anh đổ ra lòng bàn tay, đếm được mười một. Túi thứ hai không thắt nút, hột nhãn đầy túi, anh phải đổ ra cái nong. Năm mươi tư hột.
– Cành trùm lưới mười một quả. Cành để trần năm mươi tư quả. – Ông Rỡ nói như đọc lại bài đã thuộc. – Hai cành cùng cây, cùng hướng, cùng nước, cùng phân. Tao trồng nhãn bốn mươi năm, năm nào mất mùa tao cũng đổ cho trời. Hóa ra có những năm không phải tại trời.
Thiệu đứng nhìn đống hột nhãn trong cái nong, thấy cổ họng mình khô khốc.
– Thế sao năm nay ông vẫn phun buổi chiều mà không nói gì với cháu?
– Thì nói làm gì. – Ông Rỡ kéo cái mũ cối xuống. – Đi.
Anh quản lý Đăng tiếp hai người trong cái nhà điều hành lợp tôn, có cái quạt cây quay chậm và bản đồ trang trại dán trên vách, từng lô đánh số bằng bút dạ. Đăng không giấu vẻ bất ngờ khi thấy ông Rỡ. Cả xã này ai trồng nhãn mà không từng sang hỏi ông chuyện chiết cành, chuyện khoanh vỏ cho cây ra hoa.
Ông Rỡ không nói gì về ong. Ông đặt hai cái túi vải lên bàn, mở ra, kể đúng như đã kể với Thiệu, chậm rãi, không thêm chữ nào. Rồi ông hỏi:
– Năm ngoái lô nào của anh đậu quả kém nhất?
Đăng chỉ lên bản đồ. Lô bảy và lô tám, ở góc xa nhất, sát con mương.
– Lô gần đê thì sao?
– Khá hơn. Tôi tưởng tại đất.
– Lô gần đê là lô gần thùng ong nhà nó. – Ông Rỡ hất hàm về phía Thiệu. – Đất ở đây tôi biết, cả cái cánh đồng này trước là ruộng nhà cụ Khoát, đất đều như nhau.
Đăng im lặng lâu. Cái quạt quay qua quay lại, thổi tờ bản đồ phập phồng.
Thiệu nói, cố nói cho gọn, như những lần anh báo cáo sự cố cho ban quản lý tòa nhà ngày trước. Anh không xin đền tiền. Anh đề nghị một việc khác. Mùa nhãn năm sau, anh sẽ đặt hai mươi thùng ong ngay trong trang trại, ở lô bảy và lô tám, không lấy tiền thuê chỗ, đổi lại trang trại phun thuốc vào lúc sáng sớm trước sáu giờ hoặc sau năm giờ chiều, trong suốt hơn ba tuần hoa nở. Mật hái được là của anh. Quả đậu thêm là của trang trại.
– Năm nay thì sao? – Đăng hỏi.
– Năm nay hoa còn mười hai ngày nữa. Anh đổi giờ phun từ mai. Cuối mùa ta buộc dây đỏ, đếm.
Đăng bảo phải gọi cho ông chủ. Anh ta ra ngoài sân, đứng dưới nắng, nói điện thoại gần hai mươi phút. Thiệu nghe loáng thoáng mấy chữ chi phí, nhân công, rủi ro. Khi Đăng quay vào, mặt anh ta không vui mà cũng không buồn.
– Ông chủ đồng ý thử năm nay. Nhưng nói trước: cuối mùa mà quả không hơn, sang năm đừng đặt thùng.
– Vâng.
Cậu điều khiển máy bay đổi lịch, chiều nào cũng tới lúc năm giờ, bay đến khi trời nhá nhem. Có hôm Thiệu ra đê ngồi xem, thấy cái máy lướt qua những hàng nhãn trong ánh chiều màu đồng, ong đã về hết. Thằng bé vẫy anh một cái.
Hôm Thiệu ghép đàn, ông Rỡ đứng bên hàng rào xem. Anh rắc một lớp bột mì lên cầu ong của thùng yếu, rồi lồng nó vào thùng mạnh, ngăn giữa bằng một tờ giấy báo đục mấy lỗ kim. Ong hai bên gặm thủng tờ báo trong một đêm, đến sáng thì mùi đã quyện vào nhau, không còn đánh nhau nữa. Ông Rỡ hỏi tờ báo để làm gì. Anh bảo để chúng nó có thời gian quen hơi nhau. Ông gật gù, bảo người cũng thế, rồi quay vào nhà, không giải thích người thì thế nào.
Mùa ấy Thiệu không giàu lên. Anh ghép sáu đàn yếu vào ba thùng khác, mua thêm hai ong chúa của một trại trên Mộc Châu, nhờ người ta gửi xe khách về. Một con chết trên đường. Thùng mật quay được cuối mùa chỉ bằng hơn nửa năm ngoái. Anh trả nợ được mười triệu, khất ngân hàng phần còn lại thêm sáu tháng. Có hôm ngồi tính sổ đến khuya, anh để cái bút bi rơi khỏi tay mà không biết.
Chị Nguyệt quay lại vào một buổi sáng, cầm theo cái chén. Mật trong chén đã đục trắng từ đáy lên, đặc sệt, dí ngón tay vào để lại vết. Chị không nói gì về chuyện đồn, chỉ đặt mua ba lít, bảo để cho đứa con gái đang ở cữ trên Hà Nội. Tuần sau thêm hai người nữa đến mua, đều nói được chị Nguyệt mách.
Ngày hai mươi tháng Năm, ông Rỡ gọi Thiệu sang trang trại. Đăng đã chọn sẵn hai cây ở lô bảy, mỗi cây hai cành, một cành trùm lưới từ hồi đầu mùa, một cành để trần. Bốn sợi dây đỏ do chính ông Rỡ buộc, nút buộc kiểu nút dây trâu, gỡ không ra.
Ông Rỡ đếm, môi mấp máy. Đăng đếm lại, ghi vào điện thoại. Thiệu đứng xa một chút, không đếm. Anh nhìn mặt hai người đàn ông, một già một trẻ, cùng ngửa cổ nhìn lên tán nhãn, ngón tay chỉ từng chùm.
Đăng đếm xong cành thứ tư thì cất điện thoại vào túi, quay sang hỏi Thiệu sang năm định đặt bao nhiêu thùng.
Tối đó ông Rỡ sang nhà Thiệu, mang theo chai rượu thuốc và cái cân đòn. Ông treo cái cân lên cái đinh dưới hiên nhà anh, hai sợi dây đỏ cũ vẫn còn trên móc.
– Treo ở đây. Nhà tao không nuôi ruồi.
Thiệu rót rượu ra hai cái chén. Ngoài vườn, bên kia hàng rào dâm bụt, mùi nhãn chín đã bắt đầu đặc lại trong bóng tối. Trong thùng, đàn ong vẫn rì rầm, đều như tiếng nồi cơm sắp sôi.
— Hết —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe