Chương 3: Hai lô
Khang.
Ba gọi con dậy lúc mười một giờ trưa. Ba nói ra kho. Con ra kho.
Con đứng ở cửa không nói được gì. Hai mươi cái nong, kê trên những cái ghế đẩu bằng gỗ thông cũ, trái cà phê phơi nguyên vỏ, khô đều, không một chỗ mốc. Lò than ở góc đã tàn, tro còn ấm. Con bốc một nắm, bóp, vỏ khô vỡ ra lạo xạo, mùi trái cây chín ngọt bốc lên.
– Ba… ba hái hồi nào?
– Từ hôm thứ năm mày hái. – Ba nói, không nhìn con. – Chị K'Brếu hái. Tao trả công riêng.
– Sao ba không nói?
Ba gõ gõ cái tẩu thuốc vào cột nhà.
– Mày làm đúng thì tao làm theo. Mày làm sai thì tao không làm theo. Tao chưa biết mày đúng hay sai thì tao nói làm gì.
Chiều đó con đi xuống buôn tìm chị K'Brếu. Chị đang ngồi bóc bắp trước nhà, mấy đứa con nít chạy quanh.
– Sao chị không nói em?
– Ông Thao dặn không nói. – Chị cười. – Ông còn hỏi chị, cái thằng Khang nó cho chị cắn trái cà phê làm gì. Chị nói để biết trái nào ngọt. Ông hỏi chị ngọt thiệt không. Chị bứt một trái đưa ông cắn. Ông đứng im lâu lắm, rồi ông nói: hồi xưa ông chủ Tây cũng bắt hái như vầy.
Con đem mẫu đi xát vỏ ở xưởng nhà ông Cẩn, được bốn chục ký nhân. Con rang thử một mẻ nhỏ bằng cái chảo gang của mẹ trên bếp ga, rồi xay, pha, nếm theo đúng cách tụi con nếm thử ở tiệm. Vị ngọt như mứt mận, chua nhẹ như vỏ cam, hậu kéo dài. Không giống lô mật ong của con. Khác hẳn.
Tối đó con gửi mẫu cho anh Bửu, cả ba thứ: lô mật ong đạt của con, lô lên men quá do mưa, và lô phơi nguyên trái của ba.
Ba ngày sau, anh Bửu gọi.
– Lô của em, anh lấy một trăm tám chục ký như em nói. – Anh nói. – Lô lên men quá thì anh không lấy làm cà phê đặc sản được, nhưng anh lấy ba chục ký với giá thường để trộn cho dòng pha phin bán sỉ, anh nói rõ với khách là hàng gì. Còn lô phơi nguyên trái là của ai?
– Của ba em.
Anh Bửu im một lúc lâu.
– Anh lấy hết. Giá một trăm tám chục. Anh không trừ cọc của em nữa. Năm sau anh muốn đặt trước cả hai lô, của em và của ba em, tách riêng, ghi riêng tên người hái, người phơi.
Ông Thao.
Thằng Khang tính sổ trên cái bàn uống nước. Nó tính đi tính lại ba lần rồi đưa tôi coi. Hai lô cộng lại, trừ công hái theo ngày, trừ tiền thưởng chị K'Brếu, trừ tiền điện quạt, trừ cái giàn, trừ tám chục ký hỏng, lời hơn bán trái tươi cho thương lái chừng bốn chục triệu. Không phải số lớn. Năm nào trúng giá cà phê thì thương lái trả cao, bán trái tươi còn có khi bằng.
Nhưng tôi nhìn tờ giấy nó ghi, thấy ở dòng cuối có hai chữ "lô ba". Tôi chưa bao giờ có một cái lô mang tên mình.
Vợ tôi đứng trong bếp nghe hai cha con nói chuyện, đi ra đặt lên bàn hai cái ly. Bà pha cà phê bằng cái phin nhôm cũ, hạt của lô dưới, thằng Khang rang hồi trưa. Tôi uống một ngụm. Tôi uống cà phê ba mươi mấy năm, sáng nào cũng một ly đen đặc, đắng như thuốc bắc. Ly này không đắng. Tôi không biết khen làm sao, nên tôi uống hết rồi xin thêm ly nữa.
Mùa sau, đồi nhà tôi chia làm hai. Lô trên nó làm mật ong, đã mua thêm cái máy sấy nhỏ chạy bằng điện để phòng mưa. Lô dưới tôi làm nguyên trái, vẫn nong tre, vẫn lò than, có thêm cái nhiệt kế nó mua cho, treo ở cột kho. Chị K'Brếu hái cả hai lô, công ngày bốn trăm. Chị nói hái cho nhà này mệt nhất đồi, nhưng không trả lại trái xanh nào.
Sáng nay tôi bứt một trái chín, bóp lên cái máy của thằng Khang. Hai mươi ba.
Tôi không nói với nó. Để nó tự đo.
— Hết —

🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu