Chương 2: Một bản, mười bốn nóc nhà
Họ gặp nhau ở cổng bản lúc bốn giờ chiều, hai chiếc xe đỗ nối đuôi trên con đường đất đỏ quánh. Mưa đã ngớt thành mưa bụi. Nhật đứng chờ cô dưới gốc cây sa mu ở cổng bản, áo mưa xanh, kính mờ nước, tay cầm một tờ giấy gấp tư.
– Em tính rồi – anh nói, không chào. – Nhà bà A Dua ngủ được hai mươi. Còn bốn mươi. Bản mười bốn nhà, mỗi nhà ngủ thêm được ba người là đủ. Nhưng em không nói được tiếng Mông. Người ta không quen em.
Mỷ nhìn tờ giấy. Trên đó là danh sách sáu mươi khách của hai đoàn, chia theo nhóm: người già, trẻ con, gia đình, nhóm bạn. Bên cạnh mỗi nhóm có một ô trống để ghi tên chủ nhà.
– Sao anh có danh sách đoàn tôi? – cô hỏi.
– Em không có. – Anh chỉ vào cột bên phải. – Đoàn chị em đoán. Chị dẫn ba mươi hai khách, hôm qua ở Nghĩa Lộ em thấy có hai cụ với một bé, còn lại em để trống cho chị điền.
Mỷ cầm tờ giấy. Cô định nói một câu gì đó cho sắc, cái kiểu câu cô vẫn quen nói với anh ta suốt ba mùa. Nhưng mưa bụi rơi trên tờ giấy làm nhòe mấy dòng chữ bút bi, và sáu mươi người đang ngồi trên hai chiếc xe, ướt và lạnh, đợi hai người họ.
– Đưa bút đây – cô nói.
Ba tiếng sau, sáu mươi người đã có chỗ ngủ. Mỷ đi từng nhà, nói chuyện bằng tiếng Mông với từng bà chủ, từng ông chủ. Nhà ông Sùng nhận ba người, nhà bà Mua nhận năm vì nhà rộng, nhà anh Lử thì chỉ nhận được hai cô gái vì vợ anh vừa sinh con. Nhật đi sau, cầm danh sách, xếp người vào, dặn khách cởi giày trước bậc thang, không chụp ảnh trong nhà khi chưa xin phép, đừng ngồi quay lưng về phía bàn thờ. Mỷ nghe anh dặn bằng tiếng Việt rồi dặn lại bằng tiếng Anh cho hai vị khách Hà Lan trong đoàn anh, thấy anh dặn đúng hết, không sót điều nào, kể cả cái điều cô ít khi nghe hướng dẫn viên người Kinh nào nhớ: đừng huýt sáo trong nhà buổi tối.
Bảy giờ tối, cả sáu mươi người ăn cơm chung ở sân nhà văn hoá bản, mỗi nhà góp một món. Nồi canh rau cải mèo nấu với xương lợn của nhà bà Mua to bằng cái thùng phuy cắt đôi. Nhà ông Sùng mang ra một mẹt thịt treo gác bếp, đen bóng, thái mỏng. Khách Hà Nội ăn cơm lam chấm muối vừng, xuýt xoa vì nóng. Lúc bà A Dua bưng ra rổ ngô nếp luộc cuối cùng, Nhật đứng dậy, chắp hai tay, nói một câu tiếng Mông lơ lớ, sai cả thanh điệu. Bà A Dua cười đến chảy nước mắt, quay sang Mỷ bảo bằng tiếng Mông: "Ba năm rồi nó vẫn nói câu cảm ơn như con gà con kêu. Nhưng năm nào nó cũng nói." Mỷ không dịch câu đó cho ai. Ông cụ trong đoàn Mỷ, ông Lương, bảy mươi tư tuổi, trượt chân trên bậc đá lúc đi rửa tay, trẹo cổ chân. Không gãy, nhưng không đi được. Nhật cõng ông về nhà ông Sùng, đi bộ ba trăm mét đường dốc trơn, ông cụ nặng gần bảy mươi cân. Mỷ đi trước soi đèn pin. Đến bậc thang nhà sàn thì anh thở như kéo bễ, kính trễ xuống tận mũi.
– Để tôi đỡ một bên – cô nói.
– Chị đỡ cái kính của em là được – anh nói, hổn hển.
Cô đẩy cái kính lên cho anh. Ngón tay cô chạm vào sống mũi anh, lạnh và ướt mồ hôi. Cả hai im lặng đi nốt mười hai bậc thang.
Mười giờ đêm, mưa tạnh hẳn. Mỷ ngồi trên bậc thang nhà bà A Dua, nhìn xuống thung lũng tối om. Không có điện ở bản vì sạt lở làm đứt dây, chỉ có mấy ngọn đèn dầu và đèn pin nhấp nháy trong các nhà sàn. Trên trời, mây tan ra, sao hiện lên dày như hạt ngô rắc trên nong.
Nhật đến ngồi cách cô hai bậc. Anh cầm hai cái chén gốm nhỏ, rót rượu ngô từ cái can nhựa bà A Dua cho.
– Hôm nay cảm ơn chị – anh nói.
– Anh mới phải cảm ơn tôi – cô nói, nhận chén rượu. – Không có tôi thì đoàn anh ngủ trên xe.
– Không có chị thì đoàn em không có tuyến này mà đi.
Mỷ nhìn anh. Anh không nhìn cô. Anh nhìn xuống thung lũng, chỗ con suối đang chảy ầm ầm vì mưa cả buổi chiều.
– Anh nhận là anh chép? – cô hỏi.
– Công ty em chép – Nhật nói. – Năm thứ hai, giám đốc đọc bài khách viết về tuyến của chị, đưa cho em, bảo làm y như vậy. Em nói không được. Giám đốc nói nếu em không làm thì người khác làm.
– Thì anh làm.
– Em làm. – Anh uống một ngụm rượu, nhăn mặt vì cay. – Vì em nghĩ, nếu người khác làm, họ sẽ đưa khách lên mỏm đồi lúc năm giờ rưỡi cùng lúc với đoàn chị. Họ sẽ ép giá nhà bà A Dua xuống còn một nửa vì đoàn lớn. Họ sẽ cho khách mặc thử váy lanh của mấy bà cụ đang vẽ sáp để chụp ảnh. Em biết vì em đã thấy họ làm vậy ở chỗ khác.
Mỷ không nói gì. Cô nhớ lại ba mùa. Đoàn anh luôn đến sau nửa tiếng. Lúc nào cũng nửa tiếng, chưa bao giờ trùng. Cô cứ tưởng anh ta theo đuôi để học lỏm. Cô chưa từng nghĩ rằng nửa tiếng ấy là để chừa chỗ cho cô.
– Bà A Dua nói anh trả giá phòng cao hơn tôi – cô nói chậm.
– Em trả đúng giá chị trả, cộng mười phần trăm. Mười phần trăm đó là tiền em đi đường của chị.
Một con chim đêm kêu trong rừng sa mu, ba tiếng ngắn. Mỷ nhìn chén rượu trong tay. Rượu ngô bà A Dua nấu trong veo, mùi men lá thơm như mùi rơm mới.
– Trong nhóm hướng dẫn viên, tôi gọi anh là kẻ chép bài – cô nói.
– Em biết.
– Ba năm.
– Em biết – anh nói lần nữa. Rồi anh cười, lần đầu tiên cô thấy anh cười mà không phải với khách. – Thì em chép thật mà. Chị gọi đúng.
— Hết chương 2 —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe