Chương 3: Chú Trực
Đoàn Văn Trực bảy mươi hai tuổi, sống một mình trong cái chòi lợp tôn ở cuối một làng chài cách thành phố bốn mươi cây số. Ông nghỉ việc ở trạm hải đăng năm 1998, sau đó làm đủ nghề: vá lưới, phụ ghe, bán vé số. Người làng nói ông bỏ rượu đã hai mươi năm, sáng nào cũng ra bãi ngồi nhìn biển.
Chị tìm thấy ông ở đúng chỗ đó, ngồi trên một cái thúng chai úp ngược, nhìn ra phía khơi. Từ bãi cát này, khi trời trong, có thể thấy được ngọn đèn Hòn Gió.
Ông nhận ra chị ngay. Ông không đứng dậy.
– Con nhỏ Sa. Lớn quá rồi.
– Dạ. – Chị ngồi xuống bên cạnh ông, trên cát. – Chú Trực, con gặp ông Thạo rồi. Thuyền trưởng tàu hàng tám trăm tấn. Đêm mười chín tháng Mười Một năm chín sáu, ổng ở ngoài khơi Hòn Gió từ chín giờ tối tới sáng.
Ông Trực không nói gì. Hai bàn tay ông đặt trên đầu gối, run lên.
– Ổng nói đèn chớp suốt đêm. Chớp chậm. Ánh vàng. Ổng ghi vô nhật ký hàng hải, từng giờ một.
Im lặng. Sóng vỗ vào bãi, rút ra, vỗ vào. Một con chim nhạn biển sà xuống mặt nước rồi vút lên.
– Ba con quay tay suốt đêm đó, – ông Trực nói.
Ông kể, giọng khàn đặc, nhiều lúc dừng lại rất lâu.
Năm 1996, ông Trực nghiện rượu. Ông nợ tiền một ông chủ ghe trong đất liền. Mỗi lần tàu tiếp tế ra đảo, ông lén rút bớt dầu máy phát trong bồn dự trữ, đổ vào can, gửi theo ghe quen về bán. Một can, hai can, ba tháng liền. Ông tính tháng sau có lương sẽ mua bù. Ông không tính tới bão.
Chiều mười chín, bão tới sớm. Ông Trực uống rượu từ bốn giờ chiều. Tám giờ tối, máy phát cạn dầu, ngọn đèn tắt. Ba chị chạy xuống kho, thấy bồn dầu dự trữ trống trơn. Ba chị không hỏi gì. Ba chị chỉ nhìn ông Trực một cái, rồi xách đèn măng sông, can dầu hoả, leo lên tháp.
– Tao say quá, – ông Trực nói. – Tao nằm ở nhà trạm ngủ luôn. Tao nghe tiếng gió, tiếng sóng. Tao không lên. Tao không lên một lần nào.
Năm giờ sáng, gió dịu, ông Trực tỉnh rượu, ra ngoài thì thấy ba chị nằm dưới chân tháp. Trên ban công tháp, cửa kính phòng đèn mở toang, cái giẻ lau vướng trên lan can. Gần sáng, muối biển đọng mờ mặt kính lăng kính sau một đêm bão. Ba chị đã ra ban công lau kính, cho ngọn đèn sáng rõ hơn trong mấy giờ cuối cùng trước bình minh, và gió cuối bão đã quật ba chị xuống.
– Tao sợ, – ông Trực nói. – Tao biết người ta lên phòng đèn thì sẽ thấy đèn măng sông, thấy ba con quay tay. Người ta sẽ hỏi vì sao mất điện. Người ta sẽ kiểm bồn dầu dự trữ. Người ta sẽ biết tao ăn cắp dầu, tao say rượu nằm ngủ trong khi ba con một mình quay đèn. Tao sẽ ở tù.
Ông lấy chai rượu của mình, rưới lên áo mưa của ba chị. Ông để cái chai rỗng lăn trong nhà trạm. Ông khai đèn tắt lúc tám giờ, khai ba chị say. Ông tháo cái tay quay khỏi chân bệ, cất vô kho. Còn ngọn đèn măng sông, ông quên mất. Ông quên mất nó vẫn nằm trên bệ, còn một phần ba bình dầu.
– Ba mươi năm nay, – ông Trực nói, – đêm nào tao cũng ra đây ngồi coi đèn. Đèn chớp hai cái là tao nghe như ổng hỏi tao: mày ngủ ngon không Trực.
Mạc Thị Sa ngồi nhìn ra khơi rất lâu. Chị đã chuẩn bị rất nhiều câu để nói. Bây giờ chị không nhớ câu nào.
– Chú sẽ viết lại những gì chú vừa kể không? – cuối cùng chị hỏi. – Ký tên. Con mang tới đơn vị quản lý hải đăng. Con biết là không ai xử chú được nữa. Con chỉ cần ba con không còn là người say rượu bỏ đèn.
Ông Trực gật đầu. Ông không hỏi gì thêm.
Ba tháng sau, đơn vị quản lý hải đăng ra văn bản điều chỉnh kết luận vụ tai nạn năm 1996, căn cứ trên lời khai mới của ông Trực, nhật ký hàng hải của thuyền trưởng Kiều Văn Thạo và biên bản khám nghiệm phòng đèn năm xưa. Văn bản ghi: người gác Mạc Văn Hạc đã duy trì ngọn đèn bằng hệ thống dự phòng suốt đêm bão, và tử nạn khi đang làm nhiệm vụ.
Người ta tổ chức một buổi lễ nhỏ trên đảo Hòn Gió. Má chị lần đầu tiên ra đảo, ba mươi năm sau ngày ba mất. Má đứng dưới chân tháp, chỗ bậc đá, rất lâu. Rồi má mở cái túi xách, lấy ra một chai rượu nếp nhỏ, rót một ly, đặt lên bậc đá.
– Ba mươi năm má không cúng ba ly rượu nào, – má nói. – Má giận ba. Giờ má mời ba một ly.
Ông Thạo cũng ra đảo, chống gậy, được hai thanh niên dìu leo từng bậc thang xoắn ốc lên tới phòng đèn. Ông đứng sờ cái tay quay sắt người ta mới gắn lại ở chân bệ, sờ rất lâu, như sờ bàn tay một người bạn.
Ông Trực không ra. Ông nhờ chị mang theo một bó hoa muống biển hái trên bãi cát làng ông.
Đêm đó, Mạc Thị Sa xin ở lại đảo. Chị leo lên phòng đèn lúc gần nửa đêm. Ngọn đèn giờ chạy bằng điện mặt trời, quay bằng mô tơ, chớp đều tăm tắp như đồng hồ. Chị ngồi xuống sàn sắt, tựa lưng vào bệ đèn, nhìn ánh sáng quét qua mặt biển đen thẫm, quét qua bãi cát trước nhà cũ của chị ở đất liền.
Rồi chị đứng dậy, đặt bàn tay lên cái tay quay sắt. Chị không quay. Ngọn đèn ngoài kia còn phải chớp đúng nhịp cho những con tàu đang vào luồng.
Chị chỉ đứng đó, tay đặt trên thanh sắt lạnh, và đếm. Một. Hai. Tắt. Chậm hơn mười giây một chút, như người mệt.
— Hết —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám