Chương 3: Năm giờ rưỡi
Từ hôm đó, hành lang tầng bốn có thêm một cái ghế nhựa.
Cái thứ hai màu xanh, tôi lấy trong góc bếp. Bốn giờ sáng, ông và tôi ra hành lang. Ông bật đài. Tôi mở sách. Cái đèn kẹp kẹp vào lan can, chiếu xuống trang giấy. Ông ngồi bên cạnh, áp tai vào đài, lâu lâu lại ho, lâu lâu lại rót cho tôi một chén nước chè từ cái phích nhỏ ông mang theo.
Lạ là tôi học được. Học tốt hơn cả ban đêm. Có lẽ vì đầu óc buổi sớm còn trong. Có lẽ vì cái tiếng đài rì rầm bên cạnh, tiếng ông thở, khiến tôi không bao giờ thấy mình học một mình. Có lẽ vì tôi biết nếu tôi gục xuống ngủ, ông sẽ ngồi đó một mình trong gió, và tôi không muốn thế.
Có những hôm, giữa bản tin, ông vặn nhỏ đài xuống, quay sang hỏi:
– Cháu làm đến bài nào rồi?
– Bài hình không gian ông ạ.
Ông ghé đầu nhìn vào trang sách. Ông làm thợ tiện ở nhà máy cơ khí ba mươi năm, đọc bản vẽ kỹ thuật cả đời. Ông nhìn cái hình chóp tứ giác tôi vẽ, rồi lấy ngón tay chỉ vào một cạnh.
– Cái đường này cháu vẽ nét liền. Nó bị che, phải vẽ nét đứt. Ngày xưa trong xưởng vẽ sai nét đứt là thợ tiện hỏng cả phôi.
Tôi nhìn lại. Ông nói đúng. Tôi đã tính sai cả bài vì nhìn nhầm cái mặt phẳng.
Một buổi sáng, khi bản tin thời tiết vừa hết, tôi gấp sách lại, nói nhanh, mắt nhìn xuống bậc cầu thang:
– Ông ơi, cháu xin lỗi ông chuyện hôm trước.
Ông vặn nhỏ đài.
– Chuyện gì?
– Chuyện cháu bảo ông rảnh.
Ông nghĩ một lúc, rồi lắc đầu.
– Ông quên rồi. Người già hay quên.
Ông không quên. Tôi biết ông không quên, vì ông nói câu đó nhanh quá, như đã chuẩn bị sẵn. Nhưng tôi cũng biết ông muốn tôi tin là ông quên. Nên tôi tin.
Rồi ông kể cho tôi nghe vì sao ông nghe đài lúc bốn giờ. Ba mươi năm làm thợ tiện, ông đi ca sáng, năm giờ phải có mặt ở xưởng. Bốn giờ ông dậy, bật đài nghe thời tiết để biết hôm ấy mặc mấy lớp áo, đi đường nào cho khỏi ngập. Bà ở nhà, nghe đài cùng ông, rồi dặn ông mang ô hay không mang ô. Ông về hưu hai mươi năm rồi, không còn ca sáng nào để đi, nhưng bốn giờ vẫn dậy.
– Thế nghe thời tiết bây giờ để làm gì hả ông?
Ông chỉ vào tôi.
– Để biết hôm nay cháu mặc mấy áo.
Mấy người hàng xóm dậy sớm đi tập thể dục quen dần với hai ông cháu ở chiếu nghỉ. Bác Tâm phòng đối diện, sáng nào đi qua cũng dúi cho tôi một gói bánh quy, bảo "Ăn đi mà học, bác có thằng con thi rồi, bác biết". Cô Hoa tầng năm đi chợ đầu mối về, có hôm để lại trên bậu cửa sổ hai quả quýt.
Một sáng tháng Ba, mẹ tôi dậy sớm hơn mọi ngày vì đi họp. Mẹ mở cửa, thấy hai cái ghế nhựa ở chiếu nghỉ, thấy ông và tôi. Mẹ đứng ở cửa, không nói gì. Rồi mẹ đi vào, một lúc sau mang ra hai cái áo khoác, một cái khoác lên vai ông, một cái khoác lên vai tôi.
Tối hôm đó, bố mẹ không thì thầm trong buồng nữa. Bố mẹ gọi tôi ra ban công.
– Bố mẹ định bán căn này. – Bố nói. – Mua căn hai phòng ở Long Biên. Có phòng riêng cho con học.
Tôi nhìn vào trong nhà, nơi ông đang lau cái đài bằng một miếng vải mềm, như mọi tối. Bà ngồi cạnh, nhặt rau.
– Ông bà có muốn đi không bố?
Bố im.
– Ông bà sống ở đây năm mươi năm rồi. – Tôi nói. – Bác Tâm, cô Hoa, cả cái khu này. Ông đi tập thể dục ở hồ Ba Mẫu sáng nào cũng gặp mấy ông bạn. Ra Long Biên ông quen ai?
– Thì vì con…
– Con không cần phòng riêng. – Tôi nói, và tôi biết là tôi nói thật. – Con cần học. Con học được rồi. Chỉ còn ba tháng.
Mẹ nhìn bố. Bố nhìn mẹ. Ngoài cửa sổ, những ô cửa của dãy nhà tập thể bên kia sáng đèn, nhà nào cũng cơi nới, cũng chuồng cọp, cũng phơi quần áo ngoài ban công. Tiếng ai đó rửa bát lách cách.
Tôi thi tốt nghiệp vào cuối tháng Sáu. Sáng ngày thi môn Toán, tôi dậy lúc bốn giờ như mọi ngày, ra hành lang. Ông đã ngồi đó rồi. Hôm ấy ông không bật đài. Ông chỉ ngồi đó, mặc áo cộc tay vì trời đã hè, cầm cái phích chè, nhìn tôi ôn lại công thức lần cuối.
Lúc tôi đứng dậy đi, ông đưa cho tôi tờ năm mươi nghìn, nhiều hơn mọi ngày.
– Ăn xôi xéo. – Ông nói. – Ăn no mà làm bài. Nhớ nét đứt.
Tháng Tám, tôi nhận giấy báo nhập học. Tôi chuyển vào ký túc xá ở Tạ Quang Bửu, cách nhà có ba cây số. Cái phản gỗ ở phòng ngoài được gấp lại, dựng vào tường. Căn nhà vẫn ba mươi tám mét vuông, giờ có năm người.
Cuối tuần đầu tiên tôi về nhà ngủ. Bốn giờ sáng, tôi tỉnh giấc vì thói quen. Tôi nằm im, nghe ngóng. Tiếng then cửa kéo nhẹ. Tiếng dép lê ra hành lang.
Ông vẫn ra ngoài đấy. Không ai bắt ông ra nữa, vậy mà ông vẫn ra.
Tôi dậy, đi theo. Ông ngồi ở chiếu nghỉ, dưới bóng đèn vàng, trên cái ghế nhựa đỏ, cái đài trên bậu cửa sổ đang phát bản tin thời tiết. Bên cạnh ông là cái ghế nhựa xanh. Trống. Không ai cất nó đi. Trên mặt ghế có một chén chè đã rót sẵn, còn bốc khói.
Ông không quay lại, nhưng ông biết tôi đứng đó.
– Ngồi đi. – Ông nói. – Hà Nội hôm nay nắng.
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt