Chương 1: Hai cậu Tú
Bà mối Thiềm nheo mắt nhìn buồng cau, nheo đến mức hai con mắt chỉ còn hai sợi chỉ, rồi thò tay vào giữa buồng, nhặt ra đúng một quả, ném xuống rãnh.
– Quả này sâu – Bà nói. – Mang đi dạm vợ mà có quả sâu thì cô dâu lắm chuyện.
Ông Phí Văn Đạt nhìn theo quả cau dưới rãnh, chẳng thấy nó sâu ở chỗ nào. Ông chỉ biết gật đầu. Bà Thiềm làm mối ở bốn làng Thượng, Hạ, Đông, Đoài đã bốn mươi năm, cả vùng bảo bà mát tay nhất xứ. Chỉ có điều mấy năm nay mắt bà kém đi, đến người quen đứng cách năm bước bà cũng phải hỏi ai đấy.
Sáng hôm ấy, mùng sáu tháng Ba, bà Thiềm có hai đám dạm ngõ, cách nhau đúng một canh giờ. Đám thứ nhất, nhà họ Phí làng Thượng dạm cho con trai là Phí Văn Tú, học trò nghèo, hiền như đất, ngoài sách vở chỉ mê ghép cây ăn quả. Đám thứ hai, nhà họ Mai làng Hạ dạm cho con trai là Mai Đức Tú, buôn vải dưới phố huyện, dẻo miệng, áo lúc nào cũng phẳng.
Cả vùng gọi hai người là cậu Tú làng Thượng và cậu Tú làng Hạ.
Cậu Tú làng Thượng được dạm cho cô Liễu Thị Hồng, con gái nhà buôn vải lớn nhất làng Đoài, xinh có tiếng, đọc được cả truyện Nôm. Cậu Tú làng Hạ được dạm cho cô Từ Thị Kén, con gái nhà nuôi tằm làng Đông, nhanh nhẹn, nói chuyện như đuổi gà.
Hai buồng cau, buộc hai sợi lạt đỏ giống hệt nhau, đặt trên hai cái mâm đồng giống hệt nhau. Hai nhà trai đi theo bà Thiềm, mỗi nhà một tốp, ra đến ngã ba đầu đình thì tách ra. Bà Thiềm dẫn tốp nào, đi đường nào, nói gì với ai, về sau không ai nhớ rõ. Chỉ biết là đến trưa hôm ấy, buồng cau nhà họ Phí đã nằm trên bàn thờ nhà họ Từ làng Đông. Còn buồng cau nhà họ Mai thì nằm trên bàn thờ nhà họ Liễu làng Đoài.
Và cả hai nhà gái đều nhận.
Sáng hôm ấy Kén không có nhà. Nàng gánh hai thúng kén vàng ra chợ phiên Cầu Ngói từ lúc gà gáy, vì lái kén dưới xuôi chỉ lên mua đến giờ Thìn. Lái kén năm nay là một ông béo, tay đeo nhẫn ngọc, bóp thử một cái kén rồi chê mỏng, bóp cái thứ hai rồi chê ẩm, trả nàng đúng nửa giá năm ngoái.
– Kén nhà cháu ươm ra tơ được sợi dài nhất làng Đông – Kén nói.
– Thì cô mang về mà ươm.
Nàng muốn lắm. Nhưng ươm tơ phải có nồi đồng, có guồng quay, có thợ ươm, nhà nàng không có gì ngoài mấy nong tằm và một vườn dâu. Nàng bán. Trên đường về, nàng tính đi tính lại, nếu năm sau giá kén còn hạ nữa thì phải bán bớt một sào dâu. Nàng tính mãi, đến nỗi về đến cổng thấy mấy người lạ đi ra cũng không để ý, chỉ nghĩ là khách của cha.
Từ Thị Kén biết chuyện vào lúc chập tối, khi mẹ nàng ngồi bên khay trầu, vui vẻ kể về cậu Tú vừa đến dạm. Cậu ấy hiền lắm, mẹ nàng bảo, mặt cứ cúi xuống, hỏi gì cũng dạ, uống nước cũng xin phép. Cậu ấy còn ra vườn dâu sau nhà, đứng nhìn mấy gốc dâu rất lâu.
– Cậu Tú làng Hạ buôn vải mà hiền thế à? – Kén hỏi. – Con nghe người ta bảo cậu ấy nói không ai chen vào được.
Mẹ nàng ngừng nhai trầu.
– Làng Hạ nào? Cậu Tú làng Thượng. Con nhà họ Phí.
Kén đứng bật dậy, làm đổ cả khay trầu.
Cùng lúc ấy, ở làng Thượng, Phí Văn Tú đang ngồi ghép một mắt bưởi vào gốc bưởi chua ở góc vườn thì nghe cha gọi. Ông Phí Văn Đạt đứng ở hiên, mặt nghiêm như sắp nói chuyện tế lễ.
– Nhà họ Từ nhận cau rồi. Năm sau cưới.
Tú buông con dao ghép.
– Nhà họ Từ nào hả cha? Con tưởng nhà mình dạm nhà họ Liễu làng Đoài.
Ông Đạt ngẩn ra. Hai cha con nhìn nhau. Rồi ông Đạt nhớ lại cái ngã ba đầu đình, cái lúc bà Thiềm bảo đi đường bờ ruộng cho gần, cái cổng nhà có hàng dâu xanh mướt, và mấy nong tằm phơi đầy sân mà ông đã thắc mắc trong bụng, sao nhà buôn vải lại đi nuôi tằm.
– Thôi chết – Ông Đạt nói. – Mắt bà ấy kém.
— Hết chương 1 —

🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu