Chương 2: Chiếc tất thứ nhất
Bà Nghi.
Con dâu tôi đứng ở cửa, gầy rộc, tóc rối, mặc bộ đồ ngủ kẻ ô thằng Thoại mua cho nó dịp Trung thu. Mắt nó đỏ nhưng khô. Giọng nó không to, không gắt, chỉ mệt. Cái mệt của người đã nhẩm một câu suốt mấy ngày rồi mới dám nói ra.
Tôi ngồi im trên bậc thang, đôi kim tre còn kẹp giữa các ngón tay. Một mũi len tuột ra.
Tôi hiểu ngay nó nghĩ gì. Tôi không trách nó. Một đứa con dâu nằm khóc mười ngày, ngoài cửa mẹ chồng đan tất trẻ con. Nếu là tôi ba mươi mốt năm trước, tôi cũng nghĩ thế.
– Con xin lỗi mẹ. – Nó nói tiếp. – Con biết mẹ mong cháu. Con cũng mong. Nhưng bây giờ con chưa nghĩ được đến đứa sau. Con nghe tiếng kim đan là con…
Nó không nói hết câu.
Tôi đặt đôi kim xuống bậc thang. Tôi lấy chiếc tất đã đan xong trong túi vải ra, đặt vào lòng bàn tay, chìa lên cho nó xem.
– Con nhìn cái này đã.
Phượng không muốn nhìn. Nhưng nó vẫn nhìn. Chiếc tất bé tí, len vàng đã ngả sang màu bơ cũ, chỗ gót có một vết ố nâu nhỏ bằng hạt đỗ, mấy mũi kim ở cổ tất đan lệch, tay người mới học.
– Cái này mẹ đan năm một chín chín mươi ba. – Tôi nói. – Không phải cho cháu. Cho con của mẹ.
Phượng nhìn tôi.
– Thoại sinh năm chín sáu, mẹ biết mà. – Tôi nói chậm. – Trước Thoại, mẹ có một đứa. Đứa con gái. Nó ở với mẹ được bảy tháng trong bụng. Hôm ấy mẹ đang đứng máy ở nhà máy sợi, ca chiều, mẹ thấy nó không đạp nữa. Mẹ nghĩ chắc nó ngủ. Đến tối mẹ mới đi viện.
Tôi kể bình thường như kể chuyện mua rau. Ba mươi mốt năm, chuyện ấy đã mài nhẵn trong tôi như hòn đá cuội. Nhưng tôi thấy tay con dâu tôi bám chặt lấy khung cửa.
– Lúc ấy chiếc tất này mẹ đan xong một chiếc rồi. Chiếc kia mới được cái cổ. Mẹ cất cả vào cái túi này, cắm nguyên kim vào, cho xuống đáy hòm. Từ ấy đến giờ chưa mở ra.
– Sao… – Phượng nói. – Sao anh Thoại không bao giờ kể với con?
– Vì Thoại không biết.
Đó là chuyện tôi chưa từng nói với ai trong nhà này. Bố thằng Thoại biết, nhưng ông mất đã tám năm. Bà nội nó biết, bà mất trước ông. Ngày ấy, mẹ chồng tôi dặn tôi đúng một câu: "Đừng khóc nữa, khóc nhiều là xui, đứa sau nó sợ không về." Thế là tôi không khóc nữa. Tôi đi làm lại sau hai tuần. Tôi không kể với ai. Đến khi có Thoại, cả nhà mừng quá, chuyện cũ cứ thế chìm đi, không ai nhắc, như chưa từng có.
– Mẹ lôi cái túi này ra không phải để đan cho đứa cháu nào cả. – Tôi nói. – Mẹ lôi ra vì mẹ nghe con ngồi trong nhà vệ sinh lúc hai giờ sáng, không xả nước, không làm gì, chỉ ngồi. Mẹ cũng từng ngồi như thế. Mẹ không biết nói gì với con, vì ngày xưa không ai nói gì với mẹ cả, mẹ không học được câu nào. Nên mẹ ngồi đây đan nốt chiếc này. Mẹ nghĩ, con nghe tiếng kim, con biết ngoài cửa có người.
Phượng.
Tôi ngồi xuống bậc thang. Ngồi ở bậc thứ sáu, ngay trên đầu mẹ.
Tôi cầm chiếc tất lên. Nó nhẹ như không. Vết ố nâu ở gót, sau này mẹ kể, là vết nước chè, hôm ấy mẹ vừa đan vừa uống chè đặc cho tỉnh để làm ca đêm, cốc chè sánh ra. Tôi xoay chiếc tất trong tay, nhìn những mũi len lệch ở cổ, tưởng tượng một người phụ nữ hai mươi ba tuổi, công nhân nhà máy sợi, ngồi tập đan dưới bóng đèn tuýp, vụng về, tràn trề.
Lần đầu tiên sau mười một ngày, tôi khóc thành tiếng.
Mẹ không nói "thôi đừng khóc". Mẹ không ôm tôi. Mẹ chỉ ngồi bên dưới, lưng tựa vào chân tôi, một tay vòng ra sau giữ lấy cổ chân tôi. Bàn tay mẹ khô, ấm, có những vết chai ở đầu ngón trỏ do ba mươi năm cầm kim đan. Tôi khóc rất lâu. Khóc cho đứa con của tôi, rồi khóc cho cả đứa con gái của mẹ mà tôi chưa từng biết tên.
– Chị ấy tên gì hả mẹ? – Tôi hỏi khi đã thở được.
Mẹ im lặng một lúc.
– Mẹ định đặt là Cải. Vì nó dự sinh vào tháng Chạp, mùa hoa cải.
— Hết chương 2 —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt