Chương 3: Mười chín cái tên
Bà Tư Kim kể, giọng thều thào, nhiều lúc phải dừng lại thở.
Năm 1991, giá vàng lên xuống như sóng sông Hậu mùa nước nổi. Ông Tài nghe người ta rủ, đem vàng của tiệm, rồi lén lấy luôn vàng bà con gửi, ôm hàng đầu cơ, tính chờ giá lên bán ra kiếm một mớ rồi trả lại chỗ cũ. Giá không lên. Giá rớt. Ông thua gần hết. Tới tháng Tám năm 1992, hai hộ ở làng bè tới đòi lấy vàng về cưới vợ cho con. Ông không có vàng để trả.
– Đêm mười tháng Tám, ổng đi cửa sau, ổng cạy ổ khoá của chính nhà ổng, – bà Tư Kim nói. – Ổng đập kính cửa hông bằng cái búa tạ. Tui nói ổng đừng. Ổng nói không làm vậy thì cả nhà mình ra đường, con mình ra đường. Tui nín. Tui nín ba mươi bốn năm.
– Số vàng thua rồi, còn lại bao nhiêu hả bà?
– Còn chừng mười một lượng, với mấy món nữ trang bà con gửi mà ổng chưa kịp nấu. Ổng đem đi đổ vô vốn cho thằng Đạt mở công ty ghe. Còn đôi bông tai của bà Sáu Ghe, ổng tính nấu ra, tui giành lại. Tui cất trong cái hộp trầu của má tui ba mươi bốn năm. Mỗi lần tui mở ra coi, tui thấy như hai con cá nó ngó tui.
Bà nằm im một lúc. Ngoài sân, con chim sẻ nhảy lách chách trên mấy chậu mai.
– Tui sắp đi rồi cô. Tui không muốn đem cái này xuống dưới. Tui không có tiền đền. Tiền là của ổng, của thằng Đạt. Tui chỉ có cái miệng này. Cô muốn làm gì thì làm.
Tôi về nhà, ngồi suốt một đêm.
Không còn vụ án nào để khởi tố. Thời hiệu đã hết từ hơn chục năm trước. Ông Tài tám mươi lăm tuổi, chạy thận ba lần một tuần. Bà Tư Kim nằm liệt. Nếu tôi muốn, tôi có thể để mọi chuyện dừng ở đây. Không ai trách một bà già về hưu.
Nhưng tôi còn tờ danh sách mười chín cái tên, chép bằng nét chữ của chính tôi năm hai mươi tám tuổi. Mười chín cái bè cá trên sông Hậu. Có những cái tên tôi còn nhớ mặt.
Tôi gọi cho ông Hứa Văn Đạt.
Ông Đạt gặp tôi ở văn phòng công ty vận tải đường sông, một toà nhà ba tầng kính xanh bên bờ kè. Ông chừng năm mươi lăm tuổi, áo sơ mi trắng, đồng hồ vàng, nói năng lịch sự. Ông nghe tôi kể từ đầu tới cuối mà không ngắt lời. Khi tôi nói tới đôi bông tai trên tai con gái ông ngày cưới, ông đứng dậy, đi tới cửa sổ, quay lưng về phía tôi.
– Năm đó tôi hai mươi mốt tuổi, – ông nói. – Tôi chỉ biết nhà bị cướp. Tôi thấy ba tôi khóc. Tôi tin ba tôi.
– Tôi biết, – tôi nói. – Tôi không tới để buộc tội ông. Pháp luật không còn buộc được ai nữa. Tôi tới để đưa ông cái này.
Tôi đặt lên bàn bản chụp tờ danh sách mười chín hộ, số vàng, ngày gửi.
– Mười một lượng còn lại, – tôi nói, – thành vốn của công ty ông. Bốn mươi bảy lượng của mười chín nhà. Ông muốn làm gì là quyền của ông. Còn tôi, tôi sẽ đem đôi bông tai về cho con gái bà Sáu Ghe, nếu cháu nội ông chịu trả. Và tôi sẽ kể cho chị ấy nghe vì sao.
Ông Đạt đứng im ở cửa sổ rất lâu. Bên dưới, một chiếc sà lan chở cát chạy ngược dòng, rẽ nước thành hai vệt trắng.
– Cô cho tôi một tuần, – ông nói.
Một tuần sau, ông Đạt gọi điện. Ông đã nói chuyện với cha. Ông Tài không nói gì, chỉ ngồi khóc trên xe lăn, gật đầu. Ông Đạt đã nhờ luật sư lập phương án: công ty sẽ hoàn trả cho mười chín hộ, hoặc con cháu của họ, số vàng đã gửi, tính theo giá vàng hiện nay. Ông xin tôi đứng ra cùng ông đi gặp từng nhà, vì ông không biết họ, mà họ thì biết tôi.
Chúng tôi đi gần hai tháng. Mười chín cái tên, mười một người đã mất, con cháu tản đi khắp nơi, có nhà lên Sài Gòn làm công nhân, có nhà sang tận bên kia biên giới buôn bán. Ông Chín Lưới ở Vĩnh Ngươn, chín mươi mốt tuổi, ngồi trên cái võng mắc giữa hai cây cột nhà sàn, nghe ông Đạt nói xong thì cười móm mém.
– Hai lượng đó tui để cưới vợ cho thằng Hai. Hồi đó không có, nó cưới đại, đám cưới có nồi cháo vịt. Giờ nó sáu chục tuổi rồi, cháu nội nó sắp lấy vợ. – Ông nắm tay ông Đạt, lắc lắc. – Thôi, đưa cho thằng cháu cố tui cưới vợ. Coi như ba ông nợ đám cưới, giờ trả đám cưới.
Có nhà nhận, có nhà không chịu nhận, có nhà nhận rồi đem cúng chùa. Một bà cụ ở Cồn Tiên chỉ nói một câu: vậy là tui không có ngu. Ba mươi bốn năm, con cháu nói tui ngu mới đi gửi vàng.
– Còn một chuyện nữa, – ông Đạt nói. – Con gái tôi nó muốn tự tay đem đôi bông tai trả lại.
Chúng tôi đi trên chiếc xuồng máy của chị Út Xuân, ra cái bè cá lóc ở Cồn Tiên vào một buổi chiều cuối tháng Mười. Nước sông Hậu đỏ phù sa, những đám lục bình trôi lững lờ. Cô Ngân, cô dâu năm nào, ngồi ở mũi xuồng, ôm trong lòng một cái hộp trầu bằng bạc đã đen.
Trên bè, chị Út Xuân mở hộp. Hai con cá lóc bằng vàng nằm trên lớp vải nhung đỏ, miệng ngậm hai hột xoàn nhỏ. Chị cầm lên một chiếc, lật ngửa bụng cá lên, đưa sát mắt. Trong vệt vảy chạm khắc, có hai chữ cái lồng vào nhau, nhỏ như hạt mè.
Chị đọc không ra tiếng, chỉ mấp máy môi. Rồi chị đeo vào tai, từng chiếc một, tay run tới mức cô Ngân phải đỡ giùm.
– Con xin lỗi cô, – cô Ngân nói, nước mắt chảy dài. – Con không biết.
Chị Út Xuân nắm tay cô gái, lắc đầu, không nói được gì.
Tôi đứng ở mép bè, nhìn ra sông. Dưới chân, trong mấy cái lồng lưới, đàn cá lóc quẫy nước trắng xoá vì nghe tiếng người. Chị Út Xuân bước ra cạnh tôi, hai con cá vàng đung đưa trên tai, loé lên trong nắng chiều như hai giọt nước.
– Má tui nói cá lóc là con cá nuôi nhà mình, – chị nói. – Ba tui khắc vô đó tên hai người, giấu trong vảy, ba nói chỉ người trong nhà mới biết chỗ.
Tôi gật đầu. Tôi không nói với chị rằng ba mươi bốn năm trước, tôi đã vẽ hai con cá ấy lên một tờ giấy học trò mà quên mất không vẽ vảy.
— Hết —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe