Chương 3: Máng nước dưới cần gạt
Hồ sơ ghi rõ ràng: ông Toàn đi giỗ ở Đông Anh từ sáu giờ chiều, có hai mươi người làm chứng, ngồi mâm rượu tới mười giờ. Bà Nguyệt đi làm tóc ở một tiệm trong Cầu Giấy, do cậu Lạc lái xe chở đi lúc bảy giờ mười lăm. Hóa đơn của tiệm ghi giờ vào bảy giờ bốn mươi, giờ ra mười giờ kém năm. Chủ tiệm là bạn lâu năm của bà Nguyệt, khai chắc nịch rằng bà ở đó suốt, gội, hấp, ủ, sấy. Cậu Lạc khai ngồi chờ ngoài xe, bấm điện thoại cho qua giờ. Mười giờ hai mươi hai người về tới nhà, thấy cửa sổ bị cạy.
Một chứng cứ ngoại phạm hoàn hảo, cho cả hai người.
Bà Chi xin đi xem chiếc xe. Không ai hiểu vì sao, nhưng anh Bằng đồng ý. Chiếc ô tô màu bạc đỗ trong sân nhà ông Toàn, chưa ai rửa. Bà đi một vòng quanh xe, chậm rãi như đi chợ, rồi dừng lại ở mũi xe. Bà cúi xuống, soi đèn vào khe lưới tản nhiệt. Rồi bà nhấc cần gạt nước lên, soi vào cái máng nhựa nhỏ chạy ngang dưới chân kính chắn gió, chỗ nước mưa chảy xuống.
Trong máng là một lớp bã nhầy nhụa màu xám, như bột giấy ngâm nước. Bà gắp lên bằng nhíp, đưa ra ánh sáng. Một sợi đuôi dài như sợi tóc thò ra khỏi đám bã.
– Vờ. – Bà nói. – Mấy chục con. Bị cần gạt gạt xuống, nát nhừ, lẫn nước rửa kính.
Tôi hiểu ra trước cả khi bà nói tiếp. Tim tôi đập nhanh.
– Vờ dính vô xe chỉ khi xe chạy xuyên qua chỗ vờ đang bay. – Bà Chi nói. – Mà vờ đêm đó chỉ bay trong tiếng rưỡi, chỉ ở dải đất sát sông. Xác vờ chết nằm trên mặt đường thì không nhảy lên kính được. Phải là vờ còn sống, lao vô đèn xe, đập vô kính, bết lại, người lái thấy kính lem nhem không nhìn ra đường, mới bật nước rửa với cần gạt. Con ơi, cái xe nì đã chạy dọc bờ sông trong khoảng chín giờ kém hai mươi tới chín rưỡi.
Anh Bằng đứng thẳng người dậy:
– Mà theo lời khai, giờ đó xe đang đỗ ở Cầu Giấy.
– Cầu Giấy không có vờ. – Bà Chi nói. – Mấy bà bắt vờ nói rồi: vờ bay vô đèn trong xóm ven sông, không bay xa được tới rứa.
Còn một điều nữa, bà chỉ cho tôi thấy: trong lưới tản nhiệt, xác vờ dính cánh còn nguyên, chưa khô, chưa bị nắng làm quăn. Nếu xe đi qua đường ven sông lúc mười giờ hai mươi, khi cơn vờ đã tàn, thì lưới tản nhiệt sạch.
Phần còn lại là việc của chúng tôi, và chúng tôi làm đúng việc của mình. Anh Bằng đề nghị trích xuất camera giao thông trên tuyến đường đê. Mất hai ngày. Ảnh chụp lúc tám giờ bốn mươi mốt phút cho thấy chiếc ô tô màu bạc mang đúng biển số đó đi về hướng Phú Thượng, kính chắn gió lấm tấm những chấm trắng như mưa đá. Lúc chín giờ mười sáu, nó đi ngược lại, cần gạt đang quét. Camera của tiệm tóc, vốn bị chủ tiệm khai là hỏng từ tuần trước, hóa ra chỉ bị rút dây nguồn. Bộ nhớ trong vẫn còn đoạn ghi bà Nguyệt ra cửa lúc tám giờ hai mươi lăm, quay vào lúc chín giờ ba mươi tám, tay xách một chiếc túi vải.
Cậu Lạc khai trước. Cậu khai trong căn phòng nhỏ có cái quạt trần quay chậm, hai tay úp trên mặt bàn, không dám nhìn ai. Bà chủ bảo cậu chở về nhà lấy đồ, cậu đỗ ở cổng sau, phía bãi đất trống. Vờ bay kín, cậu phải bật gạt nước suốt từ chân đê. Bà chủ vào nhà mười lăm phút, bật đèn phòng ngủ, cửa sổ phòng ngủ mở toang vì nóng. Cậu thấy vờ bay ào vào ô cửa sáng như khói. Lúc ra, bà dặn cậu mở cốp, nhấc tấm thảm, cất túi vải vào hốc lốp dự phòng. Cậu không biết trong túi có gì, cậu khai vậy. Bà bảo cậu ngồi đợi ngoài tiệm tóc cho tới khi hết giờ.
Bốn mươi lăm cây vàng nằm nguyên trong hốc lốp dự phòng, cuộn trong một chiếc khăn tắm.
Bà Nguyệt không chối được nữa. Bà vay tiền để mua một thứ người ta gọi là gói đầu tư trên mạng, lãi mỗi tuần, rồi vay tiếp để rút vốn, rồi vay để trả lãi, tới khi số nợ to bằng số vàng chồng bà cất trong tủ. Bà định dàn cảnh trộm, chờ vụ án chìm đi rồi bán dần. Bà cạy cửa sổ từ bên trong, cạy hộp bằng cái tuốc nơ vít trong ngăn kéo bếp, rồi bỏ đi. Bà tính tới camera đường phố nên chọn cổng sau. Bà tính tới tiệm tóc, tới người bạn. Bà tính cả chuyện chọn đêm có thằng Khiêm hay lảng vảng trong ngõ. Bà chỉ không tính tới mấy con côn trùng chỉ sống được một đêm.
Ông Toàn ngồi nghe kết quả điều tra ở trụ sở, không nói gì. Lúc ra về, ông hỏi tôi một câu duy nhất:
– Cái thằng Khiêm ấy, các cháu thả nó chưa?
– Thả từ hôm thứ hai rồi bác ạ.
Ông gật, rồi đi ra cửa, lưng còng hơn hôm trước.
Ngày bà Chi về Huế, tôi chở bà ra ga. Đi ngang chân đê Phú Thượng, trời chạng vạng, mặt sông Hồng đỏ như lớp gỉ đồng. Ngoài bãi giữa, mấy đốm đèn ắc quy đã lấp lánh dọc mép nước. Hôm nay là đêm cuối của mùa vờ năm nay.
– Con có biết vì răng cô hỏi chuyện vờ từ đầu không? – Bà Chi nói sau lưng tôi. – Không phải cô giỏi chi. Hồi nhỏ ở Huế, cô cũng ra bờ sông Hương coi người ta vớt vờ. Mạ cô nói con vờ sống một đêm mà đi đâu cũng để lại cái áo, như người đi đâu cũng để lại dấu.
Tôi để bà xuống ở cửa ga. Lúc quay về, một bóng người ngồi ở mép nước, cạnh ngọn đèn thứ ba tính từ bờ đê, giơ tay vẫy tôi. Là Khiêm. Nó xách lên cho tôi xem cái thau nhôm đầy vờ, cánh xám mờ chen nhau như một bát cháo trắng. Nó hét lên điều gì đó mà gió sông thổi bạt mất.
Tôi đoán nó mời tôi ăn chả vờ. Lần này, có lẽ tôi sẽ ăn hết một miếng.
— Hết —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe