Chương 2: Hai sợi đuôi
Bà Lã Hoài Chi ngồi ở hàng ghế đá trước nhà khách, đeo một cái túi vải bố màu cháo lòng, tay cầm một túi giấy xôi xéo còn nóng. Bà chìa cho tôi một nửa trước cả khi tôi kịp chào.
– Con ăn đi đã. Thức trắng thì đói, đói thì nhìn chi cũng thấy giống tội phạm.
Bà nói giọng Huế, chậm và mềm. Trên xe, tôi kể vụ án. Bà nghe, không ngắt, chỉ hỏi lại một câu:
– Mấy con trong nắp hộp, con nói là thiêu thân hả?
– Dạ, cháu nghĩ vậy.
– Để coi đã.
Ở phòng làm việc, bà Chi mở cái túi vải ra: một chiếc kính lúp soi nổi gập gọn, mấy cái nhíp, mấy lọ thủy tinh nhỏ, một quyển sách côn trùng học bìa đã sờn. Bà soi chiếc mũ bảo hiểm của Khiêm trước. Bà gắp từng xác vờ ra đặt lên tờ giấy trắng, xếp thành hàng như xếp quân cờ.
– Con lại đây coi. – Bà gọi tôi. – Thiêu thân thì cánh có vảy phấn, sờ vô dính bụi ở ngón tay, đậu xuống thì xòe cánh hay xếp mái nhà. Còn con ni, cánh như giấy bóng, gân chằng chịt, đậu thì dựng đứng hai cánh lên lưng, đuôi có hai sợi dài như hai sợi tóc. Đây là vờ. Phù du, sách vở gọi rứa.
Bà gắp lên một thứ trông như một con vờ, nhưng trong suốt, rỗng ruột, nhẹ tênh, có cả hai sợi đuôi.
– Còn đây là áo của nó. Con vờ ni lạ lắm, nó là loài côn trùng duy nhất có cánh rồi mà còn lột xác thêm một lần nữa. Nó chui từ dưới nước lên, bay được một đoạn ngắn, đậu xuống chỗ mô đó, rồi tuột bỏ lớp áo cánh mờ ni, thành con trưởng thành cánh trong. Mà nó lột ngay gần chỗ nó lên, trong vòng mươi phút, chứ không bay đi xa mới lột.
Bà chỉ vào đống xác trên tờ giấy. Phần lớn là vờ cánh mờ, nhiều con còn dính bùn non lấm tấm. Lẫn trong đó là mấy chục cái áo lột rỗng.
– Mũ của thằng nhỏ có cả trăm cái áo lột. Mũ phải nằm yên ở sát mép nước, ngay chỗ vờ trồi lên, khá lâu, thì vờ mới bò lên đó mà lột đông rứa. Mà con coi, bùn nì là bùn non mịn của bãi sông, không phải bụi đường.
– Nghĩa là nó ngồi ở bãi sông thật ạ?
– Nghĩa là cái mũ đã nằm ở bãi sông thật, một lúc lâu, giữa lúc vờ đang lên. Còn người đội mũ thì con phải đi hỏi.
Tôi đi hỏi. Mất một buổi chiều, tôi mới tìm ra mấy bà bắt vờ ở bãi giữa phía Phú Thượng. Họ ngồi xổm ở mép nước từ chập tối, mỗi người một ngọn đèn ắc quy, một cái chậu nhôm đựng nước, chờ vờ trồi lên, lao vào đèn, rơi xuống chậu. Họ giữ chỗ ngồi như giữ bí mật gia truyền, không ai nói thật với người lạ.
Mãi tới khi tôi đưa ảnh Khiêm, một bà cụ mới gật:
– Thằng Khiêm con bà Thịnh rau chứ gì. Nó ngồi cách tôi ba cái đèn. Tối hôm ấy vờ lên sớm, tám rưỡi đã trồi. Nó vớt đầy một thau thì phóng xe đi giao cho cái quán chả trong ngõ, quay ra lại vớt tiếp đến mười giờ. Nó làm thế ba năm nay rồi. Mùa vờ một năm có dăm đêm, kiếm bằng ba tháng phụ hồ.
– Thế sao nó không khai ra?
Bà cụ cười, móm mém:
– Nó sắp lấy vợ, con bé làm kế toán trên phố. Nhà gái nghĩ nó làm nhân viên kho cho một công ty. Ai lại khai với công an rằng mình ngồi bãi vớt vờ, cái nghề của mấy bà già như tôi.
Cái quán chả vờ ở đầu ngõ nhà ông Toàn, tôi đi qua mỗi ngày mà không biết. Bà chủ quán xác nhận: chín giờ kém mười, Khiêm mang vào một thau vờ, cân được hơn bốn cân, lấy tiền rồi đi ngay. Đường từ bãi vào quán đi qua đúng đầu ngõ nhà ông Toàn. Bà hàng nước thấy nó vào ngõ là thật, chỉ có điều nó vào quán chả, cách nhà ông Toàn mười bốn số nhà.
Tôi về báo lại. Anh Bằng gãi đầu. Anh không vui, cũng không buồn. Nghi phạm duy nhất vừa tuột khỏi tay, nghĩa là quay lại từ đầu.
Bà Chi không có vẻ gì vội. Bà đang ngồi soi hai con vờ tôi gắp từ trong nắp hộp gỗ ra, đặt trong một đĩa petri riêng.
– Hai con trong hộp nì không giống mấy con trong mũ. – Bà nói. – Một con cánh mờ, một con cánh trong, đã lột xong. Không dính bùn. Tụi nó là vờ đã bay xa khỏi bờ sông, theo ánh đèn vô xóm. Con hỏi lại mấy bà bắt vờ giùm cô: tối hôm đó vờ bay vô tới trong xóm lúc mấy giờ, và tới mấy giờ thì hết?
Tôi hỏi. Bà cụ móm mém trả lời không cần nghĩ:
– Lên lúc tám rưỡi, tràn vào đèn trong xóm tầm chín giờ kém hai mươi, đến chín giờ rưỡi là thưa, mười giờ thì chỉ còn xác. Vờ nó sống có một đêm, cô ạ, mà cái đêm của nó chỉ dài có tiếng rưỡi.
Bà Chi nghe tôi thuật lại, gật đầu, gấp kính lúp lại.
– Vờ bay theo ánh sáng. Một con vờ mà bị kẹp bẹp trong nắp hộp, nghĩa là lúc cái hộp mở ra, trong phòng có đèn sáng, cửa sổ hoặc cửa ra vào mở, và vờ đang bay trong xóm. Cái hộp được mở trong khoảng chín giờ kém hai mươi tới chín rưỡi. Không sớm hơn, không muộn hơn.
Anh Bằng nhíu mày:
– Thì kẻ trộm vào lúc đó. Bật đèn lên để tìm cho nhanh.
– Có thể. – Bà Chi nói. – Mà rứa thì con hỏi lại người nhà: tối đó ai về nhà lúc mấy giờ, đi đường nào?
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe