Chương 3: Quả lục lạc móp
Chiều hôm đó, tôi tìm thấy chìa khoá gác xép trong ngăn kéo bàn thờ, buộc chung với chìa nhà ông nội ở Nam Định. Tôi dựng cái thang gỗ, leo lên, chui qua cánh cửa bé như cửa chuồng chim.
Gác xép nhỏ hơn tôi nhớ rất nhiều. Hồi bảy tuổi, tôi đứng thẳng được trong đó. Bây giờ tôi phải bò. Mùi bụi, mùi mạng nhện, mùi ngói cũ hun nắng. Ô cửa sổ bé xíu bị đóng chéo hai thanh gỗ, đinh đã gỉ, nét búa vụng về của bố. Cái quạt tai voi vẫn ở góc. Cái chõ đồ xôi của bà nội vẫn ở đó, bên trong có một tổ chuột đã bỏ hoang.
Tôi bò đến chỗ tấm chăn ngày xưa. Tấm chăn không còn. Nhưng hai tấm ván sàn vẫn ở đó, khe hở giữa chúng vẫn ở đó. Tôi lấy một cái que, thọc vào, lần mò. Đầu que chạm vào một vật cứng.
Tôi phải mất nửa tiếng, dùng que, dùng kẹp, dùng cả móng tay, mới moi được nó ra. Một cái vòng bạc nhỏ xíu, đã xỉn đen. Một quả lục lạc móp bẹp, không còn hình tròn. Tôi lắc nó. Không có tiếng gì cả. Hai mươi lăm năm, nó không kêu nữa.
Tôi ngồi trên sàn gác xép, bóp cái vòng trong tay, và lần đầu tiên tôi khóc vì chuyện đêm ấy.
Tối hôm đó, bà Thoa kể cho tôi nghe phần còn lại, ngồi trong căn bếp nhỏ nhà bà, bên ấm trà và đĩa lạc rang.
Mẹ tôi không đi theo ai. Bố mẹ tôi ly hôn, toà xử cho mẹ nuôi tôi, vì bố hồi ấy rượu chè, nợ nần, có lần đánh mẹ. Mẹ vào Đà Nẵng trước, tìm việc, thuê nhà, rồi ra đón tôi. Đêm mười chín tháng Chạp năm ấy, mẹ đến cùng người của phường, mang theo bản án. Bố nói tôi đang ở nhà ông bà nội ở Nam Định. Người của phường không có quyền lục nhà ban đêm. Họ về. Mẹ không về. Mẹ đứng gõ cửa đến sáng.
– Mẹ cháu biết cháu ở trong. – Bà Thoa nói. – Nó nói nó nghe thấy tiếng lục lạc.
Tôi nhìn xuống cái vòng bạc trên bàn.
– Sáng hôm sau thì sao ạ?
– Sáng hôm sau, bố cháu đưa cháu về Nam Định thật, gửi ông bà nội nửa năm. Mẹ cháu về đấy tìm, ông bà nội đuổi đi. Mẹ cháu kiện tiếp, mà nhà bên nội đông người, quen biết, lần lữa mãi. Rồi mẹ cháu ốm một trận, phải nằm viện trong Đà Nẵng, mất hơn một năm. Lúc khoẻ lại thì cháu đã lên lớp bốn, đã quen ở với bố, ai hỏi cháu cũng nói cháu ghét mẹ. Mẹ cháu đứng ngoài cổng trường nhìn cháu một lần, cháu bỏ chạy. Thế là nó thôi.
Bà Thoa rót thêm trà.
– Nhưng năm nào, đêm mười chín tháng Chạp, nó cũng ra đây. Nó gõ cửa đúng như thế, gọi đúng như thế, đến một giờ thì về. Để lại cái bánh khúc. Hồi bé cháu thích bánh khúc phố Hàng Bạc nhất. Bố cháu nằm trong nhà nghe, chưa năm nào mở. Ông ấy già đi, ông ấy hối, cả phố biết ông ấy hối, mà ông ấy không mở. Có lẽ ông ấy sợ mở ra rồi thì phải nói với cháu.
– Sao không ai nói với cháu?
Bà Thoa nhìn tôi rất lâu.
– Cháu có hỏi đâu. – Bà nói. – Hai mươi lăm năm, cháu về thăm bố được mấy lần. Lần nào cũng không ngủ lại đêm mười chín.
Bà đúng. Năm tôi ở với bố thì bố đưa đi từ mười tám tháng Chạp. Năm tôi đi xa rồi thì tôi tự tránh, mà không biết mình đang tránh cái gì.
– Năm nay bố cháu mất rồi, cháu tưởng nó không đến nữa. – Bà Thoa nói. – Thế mà nó vẫn đến.
Sáng hôm sau, tôi đi bộ ra đầu phố, chỗ gánh bánh khúc của một bà cụ người Mai Động ngồi từ năm giờ sáng. Bà cụ chừng tám mươi, đội nón, quấn khăn len, xôi khúc đồ trong cái nồi nhôm bọc chăn bông. Tôi mua một cái, rồi hỏi bà có nhớ người đàn bà nào hay mua bánh vào đêm mười chín tháng Chạp không.
Bà cụ nhìn tôi qua cặp kính lão dày cộp.
– Cái cô ở Đà Nẵng ra ấy à. – Bà nói. – Năm nào cũng mua đúng một cái, bảo tôi gói hai lớp lá cho khỏi nguội. Năm đầu cô ấy còn trẻ, tóc dài. Giờ tóc bạc hết rồi. Năm nào cô ấy cũng hỏi tôi, bà ơi, bánh khúc năm nay có ngon như năm ngoái không, con bé nhà con hay ăn bánh của bà lắm. Tôi bảo ngon. Tôi đâu có biết con bé nhà cô ấy là ai.
Tôi cầm cái bánh khúc nóng trong tay, đứng giữa phố Hàng Bạc buổi sáng, người đi chợ chen qua hai bên. Tôi nhớ ra mùi lá chuối hơ lửa, mùi hành phi, mùi đậu xanh, nhớ ra một bàn tay bẻ đôi cái bánh, thổi phù phù cho tôi. Không phải tay bố. Tay bố không bao giờ thổi.
Tôi ngồi trong căn nhà ống ấy thêm một ngày, một đêm, một ngày nữa. Tôi không gọi điện cho ai. Tôi không đi tìm số điện thoại của mẹ, dù bà Thoa nói bà có. Tôi chỉ ngồi đó, trên sàn gác hai, giữa mấy thùng các-tông, cái vòng bạc trên cổ tay. Vòng nhỏ quá, chỉ vừa đeo lên ba ngón tay.
Đêm thứ ba, mười một giờ, có người gõ cửa.
Cộc cộc. Nghỉ. Cộc.
Bà Thoa đã nói với mẹ tôi. Tôi biết bà sẽ nói.
Tôi đứng dậy. Đầu gối tôi run. Cơ thể tôi vẫn muốn co lại, vẫn muốn bịt miệng, vẫn nghe giọng bố: dù ai gọi cũng đừng lên tiếng. Tôi đi qua phòng ngủ của bố, xuống cầu thang gỗ, đi qua giếng trời lạnh buốt hơi sương, đi qua căn phòng tầng trệt trống trơn, tới trước hai cánh cửa gỗ lim.
– Mẫn ơi. – Giọng ấy gọi, ngay bên kia cánh cửa, gần đến mức tôi nghe được cả tiếng thở. Khàn, già, mệt. – Con chuột nhắt của mẹ ơi.
Tôi đặt tay lên then cửa. Tôi không mở ngay. Tôi nhấc cổ tay lên, lắc cái vòng bạc. Quả lục lạc móp không kêu. Tôi lắc lại, mạnh hơn. Không có tiếng gì.
Bên kia cánh cửa im lặng hẳn. Không còn tiếng gõ.
Rồi rất khẽ, rất khẽ, giọng đàn bà ấy nói, như nói với chính mình:
– Không kêu nữa à con.
Mẹ không nghe thấy. Không thể nghe thấy. Nhưng mẹ biết.
Tôi rút then cửa ra. Hai cánh gỗ lim nặng trịch kẹt mở, đêm tháng Chạp lùa vào lạnh buốt. Dưới ánh đèn đường vàng vọt, trên bậc thềm đá, một người đàn bà nhỏ thó tóc bạc trắng đứng đó, tay cầm cái bánh khúc gói lá chuối, tay kia còn giơ lên lưng chừng, nắm lại, như chuẩn bị gõ thêm một lần nữa.
Tôi chìa cổ tay ra, cái vòng bạc móp méo đeo chật trên ba ngón tay.
Mẹ nhìn nó. Rồi mẹ đưa bàn tay đang nắm lại ấy ra, xoè ra, và lần này không gõ vào cánh cửa nào nữa.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe