Chương 3: Điểm mốc số năm
Thuần tháo cái đồng hồ ra. Lần đầu tiên từ ngày nhập học, cổ tay trái của anh trống trơn, lạnh buốt trong gió đêm. Anh bỏ cái đồng hồ vào túi ngực áo, cài khuy lại, rồi nghĩ một chút, lại lấy ra, đưa cho Kỷ.
– Cậu giữ. Đi cuối hàng.
Anh cầm lại địa bàn, đặt lên lòng bàn tay trái, ngắm. Rồi anh quay sang Vĩnh.
– Sao Bắc Cực đâu?
Vĩnh chỉ. Thuần nhìn. Ngôi sao ấy sáng không nhiều, thấp, đứng một mình trên ngọn đồi phía bắc.
– Từ giờ tới điểm năm – anh nói – cậu đi ngay sau tôi. Cứ năm phút nhìn sao một lần, thấy lệch thì nói. Sằn, cậu xem địa hình. Kỷ, đếm bước. Ta mất bao nhiêu thời gian rồi?
Kỷ nhìn cái đồng hồ vỏ thép trong tay mình.
– Còn một tiếng mười hai phút, anh. Mà mình lệch gần năm trăm mét rồi.
Thuần gấp bản đồ lại, đứng nhìn ba đứa kia một lúc. Ba khuôn mặt ướt mồ hôi, lấm lem đất, đang chờ anh. Anh nghĩ tới chuyện học lại cả học phần, tới bảng điểm, tới cái danh "đứng đầu khoá bài thi bản đồ" mà anh đã giữ suốt ba tháng nay. Rồi anh nghĩ, rất rõ, rằng nếu nãy giờ anh chịu nghe, họ đã không ở đây.
– Tôi sai – anh nói. – Vĩnh nói đúng từ trước khi tới suối. Giờ ta sửa.
Không ai đáp. Nhưng Sằn đã đứng dậy, kéo lại quai ba lô.
Họ đi lại. Không phải về điểm ba theo đường thẳng, vì đường thẳng là một sườn đồi dốc đứng đầy cây mua. Sằn tìm ra một lối mòn trâu đi, men theo con suối cạn. Thuần đọc phương vị mới, lần này tay cầm địa bàn chìa ra xa người. Cứ năm phút, Vĩnh lại khẽ gọi "đúng rồi anh" hoặc "qua phải chút anh". Lần đầu tiên từ ngày nhập học, cả tiểu đội đi theo nhịp của thằng thiếu gia.
Họ tìm thấy điểm ba. Rồi điểm bốn, lần này đúng chỗ, không lệch một bước. Kỷ chạy lên trước lấy chữ ký, chạy về, thở như kéo bễ. Điểm năm cách điểm bốn một cây tám, qua một quả đồi.
Họ chạy. Chạy với ba lô trên lưng, súng tập đập vào hông, lá bạch đàn khô vỡ lạo xạo dưới giày. Vĩnh phồng chân từ điểm hai, giờ cái chân phải khập khiễng. Sằn giật ba lô của nó, đeo lên vai mình. Thuần quay lại, nắm lấy tay Vĩnh, kéo lên con dốc cuối cùng.
Điểm năm là bãi tập kết dưới chân đồi, có đèn pha, có cái bàn gỗ, có thầy Tạo, giáo viên bộ môn, ngồi với cuốn sổ. Các tiểu đội khác đã ngồi bệt trên cỏ, cởi giày, uống nước. Tiểu đội ba chạy vào vùng sáng, bốn đứa đứng không vững.
Thầy Tạo nhìn đồng hồ, ghi vào sổ.
– Tiểu đội ba. Quá sáu phút.
Kỷ ngồi phịch xuống cỏ. Sằn đặt hai cái ba lô xuống, lặng lẽ. Vĩnh cúi gập người, hai tay chống gối, thở. Thuần đứng thẳng, trình phiếu.
– Báo cáo thầy. Tiểu đội ba lệch hướng từ điểm hai. Nguyên nhân do tiểu đội trưởng đọc địa bàn sát đồng hồ kim loại, làm lệch kim mười bốn độ. Học viên Vĩnh phát hiện bằng sao Bắc Cực từ trước khi tới suối, báo cáo, tiểu đội trưởng không nghe. Lỗi của tiểu đội trưởng.
Cả bãi tập kết im lặng. Các tiểu đội khác quay sang nhìn. Thầy Tạo đặt bút xuống, nhìn Thuần một lúc, rồi nhìn Vĩnh.
– Sao Bắc Cực? Ai dạy cậu?
– Dạ, em tự học, thầy – Vĩnh nói, vẫn còn thở dốc. – Hồi nhỏ ông nội em mua cho em cái kính thiên văn, đặt trên sân thượng nhà ở quận Ba. Mà Sài Gòn đèn nhiều quá, thấy được có mấy ngôi. Ông em nói muốn thấy sao thì phải đi xa thành phố. Em vô đây… cũng có một phần vì vậy.
Có tiếng cười khẽ đâu đó trong đám học viên. Thầy Tạo không cười. Thầy viết thêm một dòng dài vào sổ, rồi nói:
– Tiểu đội ba trượt thời gian. Học lại học phần này cùng khoá sau. Nhưng – thầy gõ bút vào trang sổ – báo cáo trung thực, xử lý sự cố đúng, về đủ quân số, không bỏ người. Tôi ghi hết. Đồng chí tiểu đội trưởng, từ mai, đồng chí đọc địa bàn thế nào?
– Tháo đồng hồ, thầy. Và nhìn trời.
Đêm ấy, về tới doanh trại đã gần hai giờ sáng. Bốn đứa ngồi ở bậc thềm dãy nhà, chưa ai muốn đi ngủ. Kỷ trả lại Thuần cái đồng hồ vỏ thép. Thuần cầm, nhìn mặt kính, nhìn hai cái kim dạ quang, rồi không đeo vào.
– Vĩnh.
– Dạ.
– Lần sau đi rừng, cậu giữ cái này. Tôi đeo nó thì tay không cầm được địa bàn cho thật.
Vĩnh nhìn cái đồng hồ, rồi nhìn Thuần, đẩy gọng kính lên.
– Anh chắc không? Của bố anh mà.
– Bố tôi dặn đeo cho đúng giờ – Thuần nói. – Không dặn đeo cho đúng hướng.
Kỷ cười phá lên, tiếng cười vang cả dãy nhà, rồi tự lấy tay bịt miệng vì sợ trực ban. Sằn nằm ngửa ra bậc thềm, chỉ lên trời, hỏi Vĩnh cái chữ W ban nãy đâu rồi, cái hình như cái gáo vừa nhô lên ở phía đông bắc kia là chòm gì. Vĩnh kể. Thuần ngồi nghe, ngửa cổ nhìn theo ngón tay thằng thiếu gia, lần đầu tiên trong đời học tên của những thứ mà anh vẫn nhìn thấy mỗi đêm.
Bốn năm sau, ngày tốt nghiệp, cả khoá đứng trên sân duyệt binh. Bố Thuần từ Quảng Ngãi ra dự, đứng ở hàng ghế phụ huynh. Lúc lễ tan, ông đi tìm con, và thấy thằng con mình đứng với một cậu đeo kính cận, da trắng, nói giọng Sài Gòn. Trên cổ tay trái của cậu ấy là một cái đồng hồ cơ vỏ thép to bản, mặt đen, kim dạ quang.
Ông nhìn cái đồng hồ, nhìn con trai. Thuần cười.
– Nó chạy vẫn đúng giờ, bố ạ. Con chỉ cho mượn chỗ đeo.
— Hết —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường