Chương 3: Bài thứ mười hai
Ông Viễn dạo lại từ đầu. Tám ô nhịp, rồi bốn ô nhịp mới. Lần này Quế đã sẵn sàng.
"Đèn tắt dần bàn này rồi bàn kia, người ta về, khăn quàng còn ấm vai…"
Chị hát. Giọng chị run ở câu đầu, rồi vững lại, như mọi đêm. Khán giả không biết chuyện gì vừa xảy ra, chỉ nghĩ ca sĩ xúc động vì đêm cuối. Ông giáo bàn số hai cầm khăn tay lau kính. Ba cô sinh viên bàn số chín ôm nhau.
Hết đoạn hai, chỗ mà chín năm nay bài hát kết thúc, ông Viễn không chơi hợp âm kết. Ông chơi tiếp. Một đoạn nhạc mới, giai điệu vẫn là giai điệu ấy nhưng đi lên một quãng, sáng hơn, như trời hửng sau mưa. Quế không biết lời. Chị đứng im, micro hạ xuống ngang ngực.
Và ông Viễn hát.
Cả phòng trà sững lại. Chín năm, chưa ai nghe ông nói quá năm chữ liền. Vậy mà giọng ông vang lên từ sau cây đàn, trầm, hơi khàn vì ít dùng, nhưng không vấp một chữ nào. Quế nhớ ra điều chị từng đọc ở đâu đó: người nói lắp khi hát thì không lắp. Bao nhiêu năm, chưa ai nghĩ đến chuyện bảo ông hát.
"Chín năm anh ngồi phía bên trái sân khấu, nhìn phím đàn mà nghe em. Chữ nào anh nói cũng kẹt lại, chữ nào viết vào nhạc thì đi tới được em."
Ông hát hết đoạn ba, rồi dừng tay. Căn phòng im đến mức nghe được tiếng mưa trên mái, tiếng một chiếc xe máy chạy chậm xuống dốc Nhà Làng ngoài kia, tiếng ai đó ở bàn số năm vừa đặt ly xuống thật khẽ.
Quế đứng giữa hai ngọn đèn vàng. Chị không khóc. Chị bốn mươi bốn tuổi, đã hát trong đám cưới người ta và trong đám tang người ta, đã ngồi trên xe đò đêm ôm con đi qua đèo Prenn, chị không khóc trên sân khấu. Chị đưa micro lên, nhìn ông Viễn, và hát lại đoạn ba, câu cuối, chữ cuối. "Đi tới được em." Hát chậm, ngân dài ở chữ "em", đúng chỗ quãng giữa hơi khàn mà bài nhạc đã chừa sẵn cho chị từ chín năm trước.
Rồi chị đặt micro xuống mặt đàn, ngay cạnh tay ông.
Phòng trà vỗ tay. Vỗ tay lâu đến mức bà Kim Loan phải bật lại đèn chùm. Con gái Quế đứng bật dậy ở bàn số bốn, khóc như mưa, miệng mấp máy: "Con nói rồi mà."
Mười một giờ rưỡi, khách về hết. Bà Kim Loan ngồi ở quầy, đếm lại mấy lọ hoa dã quỳ, không biết để làm gì. Quế và ông Viễn ngồi trên băng ghế đàn, chỗ chỉ vừa đủ hai người.
– Sao chín năm anh không nói? – chị hỏi. Lần đầu chị gọi ông là anh.
Ông Viễn mở miệng. Chữ đầu tiên kẹt lại. Chị đợi. Chị biết đợi. Chín năm đứng cạnh cây đàn, chị đã học được cách đợi một nốt nhạc tới đúng chỗ của nó.
– Vì… vì nói thì… lắp – ông nói. – Hát… hát thì không. Nhưng… anh không có… cái cớ để hát.
– Phòng trà đóng cửa là cái cớ?
Ông gật đầu.
– Cái hũ chanh đào ba năm trước – chị hỏi tiếp – cũng là anh?
Ông Viễn cười, cái cười ngượng của một người đàn ông năm mươi hai tuổi bị bắt quả tang. Ông giơ bàn tay trái lên, xoè ra. Trên ngón trỏ có một vết sẹo nhỏ, trắng, mảnh như sợi chỉ.
– Dao… gọt chanh – ông nói. – Anh… không quen bếp.
Quế nhìn vết sẹo, rồi nhìn hai bàn tay đã đệm cho chị chín năm không trật một nốt, và thấy buồn cười đến mức suýt khóc.
Rồi ông lấy trong túi gile ra một tờ giấy gấp làm tư. Giấy kẻ khuông nhạc, bút chì, nét chữ nhỏ và thẳng như kẻ chỉ. Bản gốc. Có bốn ô nhịp dạo đầu bị gạch đi bằng một nét bút run. Có đoạn ba, lời viết kín ở lề, chỗ gạch chỗ sửa. Và dưới cùng, ở góc phải, chỗ mà chín năm trước người ta cắt bỏ khi chép lại, có một dòng nhỏ:
"Viết cho người hát thử chiều thứ Ba. Chưa dám hỏi tên."
Quế cầm tờ giấy, nhìn rất lâu. Ngoài cửa sổ, mưa tạnh, sương lại xuống, đèn đường dốc Nhà Làng vàng như cũ.
– Tháng sau – chị nói – có một quán cà phê nhỏ ở đường Phan Đình Phùng mời em hát tối thứ Bảy. Người ta không có người đệm đàn.
Ông Viễn nhìn chị. Lần này ông không mở miệng. Ông đặt hai tay lên phím đàn, chơi bốn ô nhịp. Bốn ô nhịp ông từng gạch đi. Nốt nghịch ở ô thứ ba không còn nữa. Nó đã được sửa thành một nốt thuận, êm, như một câu nói cuối cùng cũng ra được khỏi cổ.
— Hết —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe