Chương 2: Khoảnh lúa xanh
Qua tuần thứ ba, tui cạo đất bằng cái bay nhỏ giỏi tới mức cổ giao cho tui coi luôn cái sàng. Đất trong hố xúc ra được đổ qua một cái sàng lưới, tui lắc lắc, tưới nước, cái gì lọt thì thôi, cái gì nằm lại thì lượm vô bao, ghi số. Hạt cườm thủy tinh xanh lét, mảnh gốm, mảnh than, có bữa một cái hạt chuỗi bằng mã não đỏ au, trong vắt, nhỏ bằng hột tiêu. Cổ cầm hạt chuỗi lên soi ra nắng, nói hạt này có khi người ta chở từ Ấn Độ qua. Tui nghe mà sởn da gà.
Tui cũng biết thêm nhiều chuyện về cổ. Cổ ăn cơm trưa ngay bờ ruộng, hộp cơm với trứng chiên, chan nước tương. Má tui thấy thương, bữa nào cũng biểu tui đem theo một hộp cá lóc kho tộ với dĩa bông điên điển xào. Cổ ăn hết sạch, rồi ngượng, cảm ơn má tui ba lần. Cổ ở trọ nhà ông Hai Tân trong xóm, tối nào cũng ngồi dưới bóng đèn tuýp ghi chép tới khuya. Cổ không có bồ, thằng em họ tui là Tư Lành đi dò hỏi giùm tui, dù tui không có biểu nó đi.
Bữa đó, tui lỡ miệng nói với cổ một chuyện.
Hai đứa ngồi nghỉ trưa trên bờ ruộng. Ruộng nhà tui ba công, đoàn khảo cổ thuê hết, mà đào thì mới đào có ba cái hố nhỏ ở góc. Phần còn lại cỏ mọc, lúa chét lên lưa thưa. Tui chỉ về phía giữa ruộng, nói:
– Cô thấy cái khoảnh đó hôn? Năm nào cấy lúa, khoảnh đó cũng xanh hơn chỗ khác, cao hơn chỗ khác. Hình chữ nhựt, dài chừng hai chục thước, ngang chừng mười thước. Ba tui nói chỗ đó đất tốt. Tui thì không hiểu sao tốt, bón phân y chang.
Cổ nhìn theo tay tui. Rồi cổ lắc đầu.
– Chắc hồi xưa có ai đổ phân chuồng, hay đốt rơm ở đó. Đất tích mùn.
– Năm nào cũng xanh, cô. Từ hồi ông nội tui.
– Có nhiều lý do lắm anh Út. – Cổ đứng dậy, phủi quần. – Mình làm khoa học thì phải đào có hệ thống, không đào theo cảm giác được.
Tui không cãi. Tui là thằng phụ đào, cổ là trưởng hố. Nhưng tui nhớ cái giọng cổ hơi cụt lủn lúc nói câu đó, cái giọng của người đang mệt chuyện khác.
Chuyện khác đó, tui biết sau một tuần.
Chiều thứ Sáu, có một đoàn người trên tỉnh về, đi cùng ông trưởng đoàn khảo cổ là một ông giáo sư già tóc bạc. Họ đứng trên bờ ruộng nói chuyện gần một tiếng. Tui đứng trong hố, nghe lỏm được mấy câu. Kinh phí đợt này chỉ đủ tới cuối tháng. Ba hố thăm dò ra được nhiều hiện vật nhưng chưa thấy dấu vết kiến trúc. Không có kiến trúc thì khó xin tiếp kinh phí đào lớn, khó đề xuất mở rộng khu bảo vệ di tích. Hết tháng, phải lấp hố, trả ruộng.
Họ về rồi, cổ ngồi bệt xuống bờ ruộng, hai tay ôm đầu gối, nhìn ba cái hố vuông vức. Tui leo lên, ngồi xuống cách cổ một khúc, không nói gì.
– Còn mười một ngày, – cổ nói. – Ba hố này em đào một tháng rưỡi mà không chạm được một viên gạch nền nào.
– Ruộng nhà tui hết tháng thì má tui cấy lúa lại. Đất này bị lấp, chừng nào mới đào lại được?
– Có khi không bao giờ.
Cổ không khóc, nhưng tui thấy cổ cắn môi.
Tối đó, Tư Lành chạy qua nhà tui, mặt hớn hở, kéo tui ra sau hè. Nó nói có người bên Long Xuyên hỏi mua, nếu tui biết chỗ nào trong ruộng có vàng lá, có nhẫn, có tượng, thì chỉ cho nó, chia đôi. Nó nói đoàn khảo cổ sắp đi rồi, lấp hố rồi, đằng nào cũng bỏ, sao không lấy.
Tui đuổi nó về. Nhưng đêm đó tui không ngủ được. Gần hai giờ sáng, con Vàng nhà tui sủa dữ dội ngoài ruộng. Tui vớ cây đèn pin, cây đòn gánh, chạy ra. Ở góc hố số hai, có hai cái bóng người đang cúi lom khom, một đứa cầm cái máy dò kim loại quơ qua quơ lại trên mặt đất, cái máy kêu tít tít. Tui rọi đèn thẳng vô mặt tụi nó, la lớn, kêu tên ông Hai Tân bên kia bờ, kêu luôn tên công an xã dù biết giờ này không ai nghe. Hai đứa quăng cái máy, chạy băng qua ruộng lúa chét, lội qua kênh, mất hút trong bóng tối. Không phải Tư Lành. Tui nhìn dáng là biết.
Sáng ra tui đem cái máy dò lên nộp công an xã, rồi kể cho cổ nghe. Cổ đứng nghe, mặt tái đi, rồi nói cảm ơn tui, nói một lần thôi, mà nói rất chậm.
Tối hôm sau tui lại ra ruộng, ngồi trên bờ, nhìn cái khoảnh lúa giữa ruộng dưới ánh trăng. Lúa chét lưa thưa, nhưng đúng khoảnh đó vẫn xanh hơn, rõ ràng một hình chữ nhựt, như ai lấy thước kẻ lên mặt ruộng.
— Hết chương 2 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình