Chương 2: Sổ tay, tuần thứ hai
Thứ Hai. Tân Mai Hạ, sáng.
Tôi quay lại, hỏi ông Chẩm có ảnh nào chụp rõ tay bà Hoà không. Ông lục tủ thờ, lấy ra cái hộp bánh quy bằng thiếc, trong đó toàn giấy tờ: giấy khai sinh của ba đứa con, sổ hộ khẩu cũ bìa xanh, biên lai đóng thuế đất mấy chục năm, một xấp thư bà viết cho ông hồi ông đi kinh tế mới ở Lâm Đồng.
Không có ảnh chụp tay. Nhưng có thứ tốt hơn: một tờ giấy mượn tiền viết tay.
Tờ giấy kẻ ô học trò, gấp tư, mép đã ố vàng. Chữ bà Hoà, tròn và nắn nót: Tôi tên Ngô Thị Hoà, ấp Hai xã Tân Mai, có mượn của anh Thạch Gia Tuấn số tiền năm mươi triệu đồng để lo cho con trai út đi chữa bệnh, hẹn trả trong hai năm, nếu không trả được thì để anh Tuấn hái bưởi trừ dần. Ngày 12 tháng 6 năm 2010. Bên dưới là chữ ký và một dấu lăn tay mực tím.
Dấu lăn tay ấy chỉ là một nửa vầng tròn. Phía trên bị cụt ngang, như mặt trăng bị ai lấy dao cắt mất chỏm.
Tôi nhìn ngày tháng, rồi nhìn ông Chẩm.
– Ông biết tờ này không?
Ông cầm lên, đeo cái kính gọng băng keo, đọc rất lâu. Tay ông run.
– Thằng Út bị thận năm đó. – Ông nói. – Bả nói bả bán bưởi dành dụm được. Tôi tin.
Thứ Hai. Tối.
Tôi ngồi xâu chuỗi lại. Ngày 12 tháng 6 năm 2010 có thật. Có một tờ giấy thật bà Hoà viết cho Tuấn ngày đó. Nhưng đó là giấy mượn năm mươi triệu, không phải giấy bán đất hai trăm năm mươi triệu. Tuấn lấy cái ngày có thật, dựng lên một tờ giấy không có thật.
Nhưng sao anh ta không đưa tờ giấy mượn tiền này ra? Vì nó ở trong tay bà Hoà. Người cho mượn thường giữ giấy nợ. Vậy sao tờ này lại nằm trong hộp bánh của bà?
Tôi ghi một câu hỏi, khoanh tròn: bà Hoà đã trả xong nợ? Nếu trả xong, Tuấn phải trả lại giấy cho bà, đúng như lệ ở quê. Nếu vậy, Tuấn không còn cớ gì. Và anh ta biết điều đó.
Thứ Ba. Khu phố Hai, nhà ông Lũy.
Ông Lũy năm nay sáu mươi tám, đang tưới mấy chậu mai chiếu thuỷ. Tôi đưa ông xem ảnh tờ giấy bán đất, chỉ vào chữ ký dưới chức danh trưởng khu phố.
– Không phải chữ tôi. – Ông nói ngay. – Tôi ký chữ Lũy có cái dấu ngã kéo dài qua chữ y. Cái này dấu ngã cụt ngủn.
– Năm 2016 ông có chứng kiến bà Hoà ký giấy gì với anh Tuấn không?
Ông nghĩ một lát.
– Có. Năm đó cô Hoà kêu tôi qua làm chứng. Nhưng là giấy trả nợ. Cô Hoà trả thằng Tuấn đủ năm mươi triệu, cộng thêm bao nhiêu tiền lời tôi không nhớ. Tôi nhớ vì cô Hoà đưa tiền mặt, xếp trong cái bao ni lông đựng bưởi, thằng Tuấn đếm lâu dữ lắm. Xong cô bắt nó trả lại tờ giấy mượn, còn kêu tôi viết thêm một tờ biên nhận cho chắc.
– Tờ biên nhận đó ai giữ?
– Cô Hoà giữ chớ ai.
Tôi chạy về nhà ông Chẩm, lục hộp bánh thiếc lần nữa, giở từng tờ biên lai thuế đất. Không có tờ biên nhận nào năm 2016.
Thứ Tư. Mười giờ đêm.
Không ngủ được. Viết ra cho rõ đầu óc:
Tuấn cho bà Hoà mượn năm mươi triệu năm 2010. Năm 2016 bà trả đủ, có ông Lũy làm chứng. Tuấn trả lại giấy mượn. Lẽ ra câu chuyện xong ở đó.
Năm nay, đường ven sông mở rộng, đền bù theo giá mới, phần vườn bị thu hồi đáng gần hai tỷ. Bà Hoà mất rồi, ông Chẩm già lẫn, con cái ở xa. Tuấn dựng một tờ giấy mua bán đề đúng cái ngày bà từng ký với mình, vì anh ta nhớ ngày đó, và vì anh ta có thể dẫn người làm chứng nói rằng năm 2010 hai bên có giao dịch tiền bạc thật. Anh ta đánh máy, bịa thêm chuyện năm 2016 ký lại có trưởng khu phố, vì anh ta biết năm 2016 ông Lũy có tới chứng kiến một cái gì đó giữa hai bên. Anh ta xây cái giả trên nền những cái thật.
Chỉ có một thứ anh ta quên. Năm 2010, khi bà Hoà ký giấy mượn, bà lăn ngón trỏ trái lên tờ giấy. Tuấn đứng ngay đó. Nhưng mười sáu năm sau, anh ta không còn nhớ ngón tay ấy thiếu một đốt.
Ai đã lăn tay lên tờ giấy giả? Đó là việc của cơ quan giám định, không phải của tôi.
Còn một chuyện làm tôi khó chịu: tờ biên nhận năm 2016 đi đâu?
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám