Chương 2: Bức vách sau cái tủ
Trinh xin nghỉ phép ba ngày, chạy xe máy về Trảng Bàng mà không báo cho cha.
Căn nhà cũ của ông nội vẫn còn. Cha cô đã xây nhà mới ở mặt tiền, để căn nhà ngói phía trong làm kho chứa phân bón, củi khô, bao bì. Lò bánh ở chái sau phủ đầy mạng nhện, những tấm phên tre phơi bánh mục đen, dựng nghiêng vào vách. Cây xoài trước sân đã cao vượt mái.
Cô đi một vòng quanh nhà, ngước lên mái. Ống khói gạch vẫn nhô lên khỏi mái ngói như hồi đó. Trên đỉnh ống khói, có một miếng tôn kẽm đã rỉ đỏ, gập đôi, úp chụp lên miệng ống, đè bằng hai cục gạch.
Cô đứng nhìn miếng tôn đó rất lâu.
Một ống khói bị bịt miệng thì khói than đi đâu? Nó không lên trời được. Nó dội ngược xuống lòng lò, rồi tìm mọi kẽ hở để thoát. Lò gạch thẻ xây đã mấy chục năm thì không thiếu kẽ hở.
Trinh vào buồng ông nội. Căn buồng giờ chất đầy bao phân, nhưng cái tủ thờ bằng gỗ dầu vẫn kê sát bức vách chung với lò, đúng chỗ cũ. Cô cùng thằng em họ hàng xóm hì hục khiêng cái tủ ra. Bụi rơi lả tả. Sau lưng cái tủ, ngang tầm vai người, trên lớp vôi trắng ố, có một vệt đen dài như một vết mực loang, toả ra từ một đường nứt chạy xiên chéo trên tường.
Cô lấy ngón tay quẹt vào vệt đen. Muội than. Thứ muội chỉ đọng lại khi khói đã thấm qua vách liên tục, nhiều đêm liền.
Trinh chụp ảnh, đo khoảng cách, đo độ rộng vết nứt, ghi lại từng con số. Rồi cô leo lên mái, gỡ hai cục gạch, chụp miếng tôn. Mặt dưới miếng tôn, nơi úp vào miệng ống, đen bóng một lớp muội dày cộm.
Buổi chiều, cô đi hỏi người trong xóm. Không ai nhớ chính xác ai đã úp miếng tôn lên ống khói, nhưng bà Tư bán tạp hoá đầu xóm nhớ một chuyện.
– Tháng Giêng năm đó mưa dầm. Nước mưa lọt xuống ống khói, chảy vô lò, ướt hết than, ông Sáu than hoài. Có bữa thằng Hai Tâm leo lên mái, nói để con bịt lại cho, khỏi dột. Tao đi chợ ngang thấy mà.
Trinh đứng im ở quầy tạp hoá. Bà Tư dúi vào tay cô một bịch bánh tráng nướng, như cho đứa nhỏ.
– Cha mày thương ông mày lắm chớ, – bà Tư nói. – Có điều cha mày ghét bả.
Ông y sĩ trạm y tế năm đó tên Huỳnh Văn Sáng, giờ đã bảy mươi lăm tuổi, về hưu, ngồi bán vé số trước cổng chùa. Trinh mua của ông hai tờ, rồi ngồi xuống bậc thềm, hỏi ông có nhớ ca ông Sáu Đực không.
Ông nhớ. Ông nhớ vì ông thấy lạ.
– Người chết vì tim thì da tái, môi tím, – ông Sáng nói. – Ổng thì da hồng hào, môi đỏ au, như người đang ngủ ngon. Tui ghi vô sổ khám là da hồng bất thường. Tui có nói với ông trưởng trạm, mà nhà có người già bảy chục tuổi, bệnh huyết áp, thì người ta chỉ nghĩ tới tim thôi. Hồi đó trạm y tế xã đâu có máy móc gì đo được.
Da hồng, môi đỏ. Trinh biết dấu hiệu đó. Nó nằm trong trang chiếu số mười bốn bài giảng của cô: khí CO gắn vào máu thành một hợp chất màu đỏ tươi, người chết vì nó thường có làn da hồng một cách lạ lùng.
Trước khi trời tối, Trinh chạy xe lên Gò Dầu. Cô không định nói gì. Cô chỉ muốn nhìn.
Chợ chiều đã vãn. Gánh bánh canh nằm ở dãy trong cùng, cạnh hàng trầu cau, chỉ còn hai người khách ngồi xì xụp. Người đàn bà đứng bên nồi nước lèo nhỏ thó hơn trong trí nhớ của Trinh, tóc đã bạc gần hết, búi gọn sau gáy bằng một cây kẹp nhựa màu nâu. Trinh ngồi xuống cái ghế đẩu cuối cùng, gọi một tô bánh canh giò heo.
Bà Tươi múc bánh, chan nước lèo, rắc hành phi, đặt tô xuống trước mặt cô. Rồi bà đứng đó, tay còn cầm cái vá, nhìn cô chằm chằm.
– Con là con nhỏ Trinh, con thằng Hai, phải hông?
Trinh gật đầu. Cô không ngờ bà nhận ra. Hai mươi hai năm, từ một con bé tám tuổi răng sún thành một người đàn bà đeo kính.
– Cái xoáy trên trán con y chang ông nội, – bà Tươi nói. Bà không cười, cũng không hỏi cô tới đây làm gì. Bà chỉ đẩy chén ớt sa tế về phía cô. – Ăn đi, nguội mất ngon.
Trinh ăn. Bánh canh bột gạo dai, nước lèo ngọt mùi xương, đúng vị cô nhớ từ những buổi sáng bà Tươi nấu cho cả lò ăn trước khi đi ngủ. Cô ăn hết tô mà không nói được câu nào. Lúc trả tiền, bà Tươi không lấy.
– Đêm đó con ói, bà mở cửa sổ cho con, con còn nhớ hông? – bà hỏi, giọng nhỏ.
– Dạ con nhớ.
Bà Tươi gật đầu, như vậy là đủ. Bà quay lại nồi nước lèo, cầm cái vá khuấy chậm. Lưng bà quay về phía Trinh.
– Cái lồng chim của ông, – bà nói mà không quay lại, – cha con có còn giữ hông, hay đốt rồi?
– Con không biết, bà.
– Ừ. Thôi con về đi, trời tối rồi. Chạy xe coi chừng.
Trinh đứng dậy. Đi được mấy bước, cô ngoái lại. Bà Tươi vẫn đứng khuấy nồi nước lèo, chậm, đều, như người ta khuấy một thứ gì đó đã nguội từ lâu.
Tối đó, cô ngồi trên bậc thềm căn nhà cũ, nhìn lên ống khói đen sì in trên nền trời. Cô gọi cho một người bạn học cũ, giờ làm bác sĩ pháp y ở Sài Gòn, kể hết. Người bạn nghe xong im một lúc.
– Không khám nghiệm được thì không ai dám kết luận chắc chắn. Nhưng nếu mày hỏi tao nghĩ sao, thì đây là ngộ độc khí than kinh điển. Ống khói bịt từ hôm mười một, lò đốt hai đêm liền. Mày nói ổng mệt, nhức đầu, cả nhà tưởng cảm. Chưa chắc là cảm đâu. Người già ngủ sát vách lò, đêm thứ ba thì không qua nổi. Con chim treo trong cùng phòng chết trước. Con nhỏ tám tuổi ngủ phòng kế bên thì bị nhẹ hơn, vì bà Tươi mở cửa sổ kịp.
– Còn cơm thì sao?
– Cơm gì? Nếu là thuốc chuột thì con sáo đã chết trước nửa đêm, ổng sẽ đau bụng dữ dội, ói mửa, không có chuyện nằm ngay ngắn như ngủ.
Trinh cúp máy. Cô nhìn qua bên kia sân, nơi căn nhà mới của cha mẹ cô sáng đèn, tiếng ti vi vọng ra một chương trình ca nhạc.
Cô đã tìm ra ai làm ông nội chết. Và người đó đang ngồi coi ti vi.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám