Chương 2: Ngày thứ mười một đến ngày thứ hai mươi chín
Ngày thứ mười một, cô ta mở lồng.
Không ai cho phép cô ta làm thế. Đám lính canh nhảy dựng lên. Ta bước ra, chân run vì hai mươi ngày không đi lại. Thân ta to bằng con trâu, da xám như đá ong, bờm xoăn từng lọn như mây. Người thường nhìn vào thì tưởng tượng đá. Ta có thể quật ngã cả bốn tên lính, có thể nhảy qua tường thành Vân Kiều, chạy về Cát Vàng trong ba ngày.
Ta không chạy. Ta biết nếu ta chạy, thì cô ta mất bảy mươi lạng, mất danh, có khi mất cả cái đầu. Và ta biết, nếu ta chạy về, thì trong một tuần đám thợ săn sẽ lại tới, và lần sau ta sẽ không gặp một người mang ghế đẩu.
Cô ta dắt ta ra vườn sau Thú Viện, nơi có một cái giếng nhỏ. Ta đi tới, nằm xuống bên miệng giếng, theo thói quen, và lần đầu tiên sau gần một tháng ta thở được một hơi cho ra hơi.
Từ ngày ấy, mỗi sáng cô ta cho ta nằm bên giếng, mỗi chiều tập cho ta đi diễu. Không roi, không khóa. Cô ta đi trước, ta đi sau. Rồi cô ta đi bên cạnh. Rồi cô ta trèo lên lưng ta, ngồi, không cầm dây, không thúc gót. Ta để yên. Chuyện đó không khó như người ta nghĩ. Thú chỉ khó chịu khi người ngồi trên lưng nó muốn nó đi đâu đó mà nó không hiểu vì sao.
Ngày thứ mười sáu, có người làng Cát Vàng lên thành. Một ông già, tên Ba Duộc, lặn lội ba ngày đường, đứng ngoài cổng Thú Viện xin gặp người thuần nghê. Cô ta ra gặp. Ta nghe hết, vì tai nghê nghe được tiếng muỗi bay cách năm mươi bước.
Giếng làng Cát Vàng đã đục. Nước có mùi tanh. Mạch nước dưới đáy lặn xuống sâu, gàu thả hết dây mới chạm. Ba đứa trẻ đã đi ngoài vì uống phải. Đàn bà phải gánh nước từ sông Cát lên, mỗi chuyến nửa canh giờ.
– Cô cho làng xin con nghê về, – ông Ba Duộc nói. – Làng góp được hai mươi lạng.
– Thiếu chủ trả bảy mươi, – cô ta nói. – Mà ông nghê không phải của tôi, bác ạ. Cũng không phải của thiếu chủ. Nhưng ở thành Vân Kiều này, thứ gì đã vào lồng thì đều có chủ.
Tối ấy cô ta ngồi bên ta rất lâu, không đan rổ.
– Ông có muốn về không?
– Muốn, – ta nói. – Nhưng ta về một mình thì giữ được giếng, không giữ được ta. Sang năm thợ săn lại lên.
– Nếu có một sợi dây buộc ông vào cái giếng thì sao? – cô ta hỏi. – Không phải buộc vào người. Buộc vào giếng. Ai muốn bắt ông đi, thì phải bê cả cái giếng đi.
Ta nhìn cô ta bằng con mắt trái.
– Khế hồn là buộc hồn người với hồn thú. Cô buộc ta với cái giếng thì cô làm sao?
– Tôi buộc ông với tôi, rồi tôi buộc tôi vào cái giếng. Sợi chỉ thứ ba. Tôi ở đầu này, ông ở đầu kia, cái giếng nằm giữa. Ông không rời giếng quá mười dặm được nữa. Tôi thì không còn khế hồn được với con nào nữa, cả đời.
– Thế thì cô được gì?
– Được cái hợp đồng, – cô ta nói, và lần đầu tiên ta thấy cô ta cười, cười kiểu người vừa nghĩ ra một mẹo hơi xấu tính. – Ông có biết hợp đồng thiếu chủ ký với tôi ghi gì không? Ghi: thuần cho con nghê chịu để thiếu chủ cưỡi diễu qua phố chính trong ngày Thú Hội, và từ đó về sau nghe lệnh thiếu chủ. Không ghi nó phải ở đâu.
Ta suy nghĩ về câu ấy rất lâu. Bốn trăm năm, ta đã biết người làng Cát Vàng cãi nhau về bờ ruộng, về ranh giới, về chữ trong khế ước bán đất. Ta biết rằng chữ trong giấy là một con thú khác, có răng.
– Thiếu chủ sẽ giận, – ta nói.
– Thiếu chủ sẽ giận, – cô ta đồng ý. – Nhưng thiếu chủ là người thích được cả thành nhìn thấy mình làm điều đẹp. Tôi chỉ cần cho cả thành nhìn thấy.
Ngày thứ hai mươi chín, cô ta làm khế hồn.
Ta không kể được nó như thế nào. Chỉ biết có một lúc, ta nghe thấy mọi thứ cô ta nghe: tiếng con chó Mực ngáy trong cái nhà tre cách đây bốn ngày đường, tiếng con trâu Cò Gáy đã chết từ lâu vẫn còn văng vẳng như tiếng mõ trong một góc nhỏ của hồn cô. Và cô ta cũng nghe thấy mọi thứ ta nghe: bốn trăm năm tiếng gàu, tiếng hò, tiếng nước rỉ dưới đá. Rồi có một sợi gì đó căng ra, chạy từ ngực cô sang ngực ta, rồi rẽ ra, chạy dài về phía đông nam, về phía làng Cát Vàng, và cắm xuống, như rễ cây.
Trên cổ tay trái của cô có thêm một sợi chỉ, màu xám đá.
— Hết chương 2 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe