Chương 3: Ly cà phê lúc năm giờ mười lăm
Suốt mười hai buổi sáng tiếp theo, ông Sáu dậy lúc bốn giờ rưỡi, cùng giờ với tui.
Ổng không làm gì nhiều. Ổng ngồi sau cánh cửa sổ, cửa khép hờ, trên bàn để cái đồng hồ treo tường cũ ổng mới chỉnh lại cho chạy đúng từng giây theo giờ trên đài phát thanh. Mỗi khi tui nhảy lên mái, ổng ghi giờ. Mỗi khi nghe cửa cuốn đầu hẻm kéo lên, ổng ghi giờ. Mỗi khi Đại Ca sủa, ổng ghi giờ. Mỗi khi cửa cuốn đóng xuống, ổng ghi giờ.
Tui lên mái lúc năm giờ mười tám, năm giờ hai mươi, năm giờ mười chín. Cửa cuốn lên lúc năm giờ hai mươi mốt, năm giờ hai mươi hai, năm giờ hai mươi. Có hai bữa chủ nhật cửa cuốn lên trễ hơn, sáu giờ kém mười, và hai bữa đó tui cũng lên mái trễ, vì tui nghe khác tiếng. Mười hai buổi sáng, không bữa nào con Đại Ca không ra hẻm.
Ông Sáu còn đi gõ cửa. Chị Thoại kể Cu Bin hai lần bị chó rượt, phải chạy vô nhà bà Tư bán tạp hoá trốn. Bà Tư kể sáng nào bà cũng phải chờ con chó vô rồi mới dám ra quét trước cửa. Thằng Lộ chạy xe ôm công nghệ kể nó từng bị con chó chồm lên làm té xe ngay đầu hẻm, trầy cái đầu gối, mà không dám nói với ai. Mỗi người ông Sáu hỏi, ổng ghi tên, ghi ngày, ghi chuyện, rồi đọc lại cho người ta nghe, hỏi đúng không, người ta gật thì mới ký.
Thằng Lộ còn đưa ổng coi một tấm hình trong điện thoại: con chó đứng giữa hẻm, không xích, không rọ mõm, góc màn hình có ghi ngày giờ. Ông Sáu nhờ chị Thoại in tấm hình ra giấy, ghim vô sổ.
Sáng thứ mười ba, ông Sáu không ngồi sau cửa sổ.
Ổng bày một cái bàn nhỏ trước cửa nhà, ba cái ghế đẩu, một bình trà, một phin cà phê. Năm giờ mười lăm, có hai người tới ngồi. Một người là ông tổ trưởng Lâm. Một người là anh công an khu vực, người trẻ, mặc đồng phục, đi chiếc xe máy cũ, được ông Sáu mời qua uống cà phê và nghe trình bày chuyện trong hẻm. Anh đã nhận lời từ hôm trước, khi ông Sáu đem cuốn sổ lên trụ sở công an phường đọc cho anh nghe từng dòng.
– Bác mời con uống cà phê sớm vậy chắc có lý do. – Anh công an cười, khuấy ly cà phê.
– Có. – Ông Sáu nói. – Cậu chờ năm phút.
Tui ngồi trên bậc cửa. Năm giờ mười tám phút, tui đứng dậy, nhảy lên mái tôn.
Ông Sáu nhìn tui, rồi nhìn đồng hồ trên tay, rồi gật đầu với anh công an.
– Hai phút nữa.
Năm giờ hai mươi phút, cánh cửa cuốn đầu hẻm kéo lên rầm rầm. Đại Ca phóng ra như mọi buổi sáng, không xích, không rọ mõm, không ai dắt theo. Nó chạy dọc hẻm, đánh hơi chỗ gốc trụ điện, sủa về phía xe xôi của bà Tám, giờ đã dời vô sát tường nhưng vẫn ở đó. Bà Tám lùi lại, hai tay giữ chặt xe.
Anh công an đứng dậy, đặt ly cà phê xuống, mở điện thoại quay. Anh quay con chó, quay cánh cửa cuốn đang mở, quay một thằng nhỏ mặc áo thợ, mười chín, hai mươi tuổi, đang đứng ở cửa gara, tay cầm sợi xích, ngáp.
Anh hỏi thằng nhỏ là ai. Thằng nhỏ nói nó là thợ học việc, ngủ lại gara. Anh hỏi ai bảo nó thả chó. Thằng nhỏ nhìn anh công an, nhìn bộ đồng phục, rồi nói thật: anh Bửu dặn sáng nào cũng thả ra hẻm cho nó đi vệ sinh, khỏi dọn trong gara, sáu giờ thì xích lại, đừng để ai thấy.
Anh Bửu tới lúc bảy giờ, đứng ở cửa gara nghe thằng thợ kể, mặt đỏ lên rồi tái đi. Ảnh đi thẳng tới bàn cà phê trước nhà ông Sáu, chưa kịp nói câu nào thì anh công an đã đứng dậy chào trước, giọng lễ phép:
– Anh là chủ con chó phải không? Tám giờ anh lên phường giúp em một chút, em lập biên bản. Anh mang theo giấy tờ nhà, sổ tiêm phòng của con chó nếu có.
Anh Bửu quay qua nhìn ông Sáu. Ông Sáu rót thêm trà vô ly của ông tổ trưởng, không ngó lên.
– Ông gài tui. – Anh Bửu nói, giọng thấp xuống.
– Tui đâu có gài ai. – Ông Sáu đặt bình trà xuống. – Tui mời người ta uống cà phê. Con chó của cậu tự tới.
Tui không đi theo lên phường. Tui chỉ biết chiều đó ông Sáu về, ghé bà Tám trước, đưa bà một cái phong bì. Trong đó có sáu trăm bốn chục ngàn, đúng tiền xôi với tiền thuốc, anh Bửu gửi qua tổ trưởng. Biên bản hoà giải lần hai ghi anh Bửu cam kết giữ chó trong gara, đưa ra ngoài phải có rọ mõm và có người dắt. Còn chuyện thả chó rông thì công an phường đã lập biên bản xử phạt hành chính, anh Bửu ký.
Anh Bửu không còn nói chuyện mèo đi vệ sinh lên nắp ca-pô nữa.
Bây giờ, sáng nào lúc năm giờ rưỡi, thằng thợ học việc cũng dắt con Đại Ca ra công viên đầu đường, đeo một cái rọ mõm bằng nhựa màu xanh lá cây. Đeo vô trông nó bớt giống Đại Ca, giống một con chó đang ngậm cái giỏ trái cây. Lúc đi ngang nhà ông Sáu, nó liếc lên mái tôn, rồi liếc xuống, rồi đi tiếp.
Tui vẫn lên mái mỗi sáng. Nhưng không phải lúc năm giờ hai mươi nữa. Tui lên lúc nào tui thích, thường là khoảng bảy giờ, khi nắng đã phủ tới cạnh tôn, và tui nằm đó thiệt sự là để phơi nắng.
Ông Sáu thì treo cái đồng hồ trở lại trên vách. Ổng nói với chị Thoại là cái đồng hồ đó chạy đúng từng giây suốt mười hai bữa, ổng tự hào về nó hơn là về chuyện thắng anh Bửu.
Còn cuốn sổ năm cột, ổng cất trong ngăn kéo, chung với mấy cái bánh răng cũ. Tui biết vì có bữa tui chui vô ngăn kéo đó ngủ. Nó ấm, và có mùi dầu máy.
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt