Chương 3: Lớp sơn thứ tư
Diềm sơn lót suốt tám ngày, từ đầu bên trái.
Cô làm từ năm giờ sáng tới mười giờ, nghỉ trưa vì nắng hắt lên đá nóng rát, rồi làm tiếp từ ba giờ chiều tới tối. Cái máy phun sơn thuê ở Quy Nhơn kêu rè rè như cái máy bơm nước. Lớp sơn lót màu trắng đục phủ dần lên những người đàn bà đợi thuyền, lên con thuyền mũi đỏ, lên lũ trẻ thả diều. Mỗi mét tường cô phủ là một mét cô nhớ mình đã vẽ đêm nào, tô màu gì, pha bao nhiêu nước.
Ngày thứ tư, một ông già đi biển ngồi xổm dưới chân kè, chỉ vào con thuyền mũi đỏ sắp bị phủ trắng, hỏi cô có biết con thuyền đó của ai không. Cô bảo không, cô vẽ đại. Ông cười, bảo cả xóm tin đó là thuyền của ông Sáu, chồng bà Sáu Lựa, chìm năm tám mươi sáu ngoài Cù Lao Xanh, vì ổng là người duy nhất trong xóm sơn mũi thuyền màu đỏ. Diềm đứng trên thang, cây súng phun sơn trong tay, nhìn con thuyền mà cô đã vẽ chỉ vì tối hôm ấy còn dư nửa hộp sơn đỏ. Rồi cô bấm cò. Thuyền biến mất dưới lớp trắng đục. Ông già đứng dậy, phủi đít quần, không nói thêm gì.
Người trong xóm không ai cản. Họ chỉ đứng xem. Mấy ông đi biển về ngồi chồm hổm trên thúng chai, hút thuốc, nhìn. Mấy đứa trẻ đi học về đứng xếp hàng dưới chân kè, nhìn. Bà Sáu Lựa thì sáng nào cũng xách giỏ cá đi ngang, không dừng lại, không nhìn lên.
Sáng ngày thứ chín, cô tới góc dưới bên phải.
Cô dựng thang, trèo lên, cầm cây súng phun sơn. Con Ma Lanh ngồi liếm chân, nhìn cô bằng con mắt vàng và con mắt xanh. Lại gần thế này mới thấy rõ, quanh con mắt xanh là những vệt cọ nhỏ, run run, không đều, của một bàn tay già. Lớp chồng lớp. Lớp này đậm hơn màu của cô, lớp kia nhạt hơn, như người tô lại đã cố gắng mỗi năm pha cho đúng cái màu mà cô chấm bừa năm ấy, rồi không năm nào đúng.
Mai mốt có ai thấy sai thì người đó sửa.
Cô nhớ ra câu đó. Cô đã nói câu đó với ai đó, một đêm nào đó, nhưng không nhớ được với ai.
Diềm leo xuống. Cô tắt máy phun sơn. Cô đi dọc bãi cát tới dãy nhà mái tôn, hỏi đường tới nhà bà Sáu Lựa.
Bà Sáu ngồi trước hiên, đang gỡ cá nục khỏi lưới. Cái hiên nhỏ có treo một tấm ảnh đen trắng của một người đàn ông trẻ đứng trên mũi thuyền.
– Bà ơi. – Diềm nói. – Con là người vẽ con mèo đó. Mười hai năm trước.
Bà Sáu ngẩng lên. Bà nhìn Diềm rất lâu, từ đầu xuống chân, như người ta nhìn một người họ hàng xa lâu năm không gặp.
– Tui biết. – bà nói. – Cô cầm cây cọ giống y hệt hồi đó. Cầm ngửa tay.
– Bà biết mà bà không nói gì?
– Nói chi. Cô đi làm kiếm tiền nuôi con. Tranh của cô, cô xóa thì cô xóa. – bà cúi xuống gỡ tiếp con cá. – Tui chỉ tiếc con mắt. Mười hai năm tui tô hoài không ra cái màu của cô.
Diềm ngồi xuống bậc hiên cạnh bà. Ngoài kia, sóng đánh lên chân kè, rì rầm.
– Con không xóa con mèo được bà ơi.
– Hợp đồng người ta biểu xóa hết mà.
– Dạ. Xóa hết thì người ta mới trả tiền.
– Vậy thì sao?
– Con chưa biết.
Chiều hôm đó Diềm lên trụ sở phường. Cô gặp cậu cán bộ văn hóa tên Lữ Phong, ngồi đối diện cậu qua cái bàn gỗ chất đầy hồ sơ, và nói thẳng: bức tranh cũ là cô vẽ. Cô sẽ làm đúng phần mẫu đã duyệt, cá heo, san hô, hải âu, trên toàn bộ bức kè. Trừ một ô một mét vuông ở góc dưới bên phải. Cô xin giữ lại con mèo. Nếu phường không chịu, cô xin trả lại tiền tạm ứng, và phường thuê người khác.
Cô nói một hơi, rồi ngồi chờ.
Lữ Phong không trả lời. Cậu mở ngăn kéo, lấy ra một tập hồ sơ thiết kế, lật tới trang cuối, xoay lại cho cô xem. Trên bản vẽ phối cảnh bức kè mới, ở góc dưới bên phải, có một ô vuông nhỏ khoanh bằng bút đỏ, kèm một dòng chú thích bằng tay mà cô đọc hai lần mới tin: giữ nguyên hiện trạng.
– Em xin được từ tháng Bảy. – Phong nói. – Họp ba lần. Có ông phó phòng cứ hỏi giữ một con mèo làm gì. Em nói người dân xóm này coi nó như con mèo canh kè, xóa đi là người ta không chịu. Ông ấy chịu.
– Sao em không nói với chị từ đầu?
– Em muốn biết chị có giữ nó không. – cậu cười, hơi ngượng. – Nếu chị phun sơn lên nó, thì em cũng không có quyền gì nói chị. Chị là người vẽ mà.
Diềm nhìn cậu. Một cậu cán bộ hai mươi chín tuổi, áo sơ mi trắng cài tới cúc trên cùng, mắt thâm vì thức khuya làm hồ sơ.
– Em biết chị vẽ từ hồi nào?
– Từ hồi em giữ thang cho chị. – Phong nói. – Cái thang tre buộc dây dù xanh, chị nhớ không? Đêm thứ hai chị cho em nửa ổ bánh mì chả cá. Em nói mắt con Ma Lanh không xanh dữ vậy. Chị nói thì để vậy, mai mốt có ai thấy sai thì người đó sửa.
Diềm không nói được gì. Cô ngồi trong căn phòng có cái quạt trần quay chậm và mùi giấy hồ sơ cũ, nhìn thằng nhóc cầm đèn pin năm nào, và thấy mắt mình cay.
Hai mươi ngày sau, tuyến đường đi bộ ven biển Hải Minh khánh thành. Bức kè dài bốn mươi mét là biển xanh, cá heo nhảy, san hô đỏ, hải âu trắng, đúng như bản đã duyệt. Khách du lịch thích. Đám trẻ trong xóm thích. Chỉ ở góc dưới bên phải, sát mép kè, có một ô vuông màu cũ kỹ, loang lổ muối, trong đó một con mèo mướp ngồi liếm chân, một mắt vàng, một mắt xanh.
Diềm không tô lại con mắt xanh. Cô để nguyên những lớp màu không lớp nào đúng.
Nhưng trước khi về Sài Gòn, cô vẽ thêm một thứ vào bức tranh mới, ở chỗ con cá heo nhảy gần ô vuông cũ nhất: một thằng nhóc mười bảy tuổi, quần đùi, chân trần, đứng dưới chân một cái thang tre, tay cầm cây đèn pin rọi lên. Cô vẽ dây buộc thang màu xanh dương. Cô không ký tên.
Trên chuyến xe về Tuy Phước đón con, cô gửi cho Bông tấm ảnh chụp toàn bức kè. Ngoại kể lại, đứa nhỏ cầm điện thoại, lấy ngón tay dò từ đầu bên trái, qua cá heo, qua san hô, qua hải âu, tới góc dưới bên phải thì dừng lại, reo lên với cả nhà: có mèo nè, tranh của mẹ đó.
Mùa bão năm ấy, sóng đánh lên kè ba lần. Tháng Mười Hai, Phong nhắn cho Diềm một tấm ảnh chụp bà Sáu Lựa đứng trên thang, cầm một hộp sơn nhỏ, đang cúi sát vào góc tranh. Kèm một dòng: bà nói năm nay bà pha được rồi, gần giống của chị lắm.
Diềm phóng to tấm ảnh. Con mắt xanh của con Ma Lanh, lần này, xanh nhạt như nước biển lúc năm giờ sáng. Đúng cái màu mà thằng nhóc giữ thang đã nói, mười hai năm trước.
— Hết —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe