Chương 1: Chín đêm năm ấy
Chuyện đầu tiên Diềm làm khi nhận hợp đồng là leo lên kè, lấy móng tay cạo thử một mảng sơn ở góc dưới, chỗ con mèo.
Lớp sơn bong ra từng vảy. Dưới con mắt xanh của con mèo là một lớp xanh khác, đậm hơn, và dưới nữa là một lớp xanh nhạt như nước rửa chén, rồi dưới nữa còn những lớp mỏng tang mà móng tay cô cạo không tới. Cô chỉ tô có một lớp, mười hai năm trước.
Cô ngồi xuống bậc kè, lưng quay ra biển, nhìn bức tranh mà mười hai năm nay cô không dám quay lại nhìn. Nó dài bốn mươi mét, cao gần ba mét, chạy dọc bức kè đá ở xóm chài Hải Minh, chỗ mấy chục chiếc thúng chai úp ngửa nằm phơi trên cát. Mấy người đàn bà đứng đợi thuyền, váy áo bạc màu theo gió. Một con thuyền mũi đỏ chồm lên con sóng. Mấy đứa trẻ chạy dọc bãi với cái diều làm bằng bao nilon. Và ở góc dưới bên phải, sát mép kè, một con mèo mướp ngồi liếm chân, một mắt vàng, một mắt xanh.
Năm ấy Diềm hai mươi bốn tuổi. Vừa trượt kỳ thi tuyển vào một nhóm họa sĩ trẻ ở Sài Gòn, vừa bị người yêu bỏ, vừa bị chủ phòng tranh trả lại mười bức sơn dầu vì không bán được bức nào. Cô về Quy Nhơn, ở nhờ nhà bà dì, và một tối đi dọc kè Hải Minh, thấy bức tường đá xám xịt loang muối, cô nghĩ: ở đây không ai trả lại tranh cho mình được.
Cô vẽ chín đêm. Sơn mua chịu ở tiệm sơn đầu dốc. Cái thang tre mượn của nhà ai đó dựng bên hông kè, buộc dây dù màu xanh. Tới đêm thứ chín cô vẽ con mèo, con mèo của bà dì, con mèo có hai màu mắt mà cả xóm gọi là con Ma Lanh. Vẽ xong cô không ký tên. Sáng hôm sau cô bắt xe vào Sài Gòn, và từ đó sống bằng nghề vẽ tường thuê cho quán cà phê, trường mầm non, khu vui chơi trong siêu thị. Ba trăm nghìn một mét vuông. Không ai hỏi tên họa sĩ.
Bây giờ cô ba mươi sáu tuổi, có một đứa con gái bảy tuổi tên Bông đang ở với bà ngoại ngoài Tuy Phước, và nợ tiền trọ ở Sài Gòn hai tháng. Tháng trước, một cậu cán bộ văn hóa phường ở Quy Nhơn gọi cô. Cậu bảo đã xem trang giới thiệu tranh tường của cô trên mạng. Phường đang làm lại tuyến kè Hải Minh thành đường đi bộ ven biển. Bức kè có một bức tranh cũ, bong tróc, không rõ ai vẽ, nay phải sơn lót đè lên rồi vẽ mới theo mẫu đã được duyệt: biển xanh, cá heo, san hô, mấy con hải âu trắng. Ba mươi tám triệu, làm trong hai mươi ngày.
Cô đã ngồi nhìn số tiền ấy trên màn hình điện thoại suốt một đêm. Ba mươi tám triệu. Trả tiền trọ, gửi bà ngoại tiền sữa cho Bông, còn dư mua được cái máy phun sơn mà cô thèm từ hai năm nay.
Cô nhận. Cô không nói với cậu cán bộ rằng bức tranh cũ không rõ ai vẽ ấy là của cô.
Tối trước khi ra Quy Nhơn, cô gọi về Tuy Phước. Bông cầm máy, nói liến thoắng chuyện con gà mái nhà ngoại mới đẻ trứng hai lòng đỏ. Rồi nó hỏi mẹ đi vẽ ở đâu. Cô bảo ở biển, vẽ cá heo. Bông hỏi có vẽ con mèo không. Đứa nhỏ biết mẹ nó tranh nào cũng giấu một con mèo ở góc, và lần nào xem ảnh tranh mới của mẹ, việc đầu tiên nó làm là lấy ngón tay dò tìm con mèo. Cô bảo lần này chắc không có. Bông im một lúc, rồi nói một câu làm cô cầm điện thoại mà không biết đáp gì: không có mèo thì đâu phải tranh của mẹ.
– Cô vẽ mới hả cô?
Diềm quay lại. Một bà cụ đứng dưới chân kè, đội nón lá, tay xách cái giỏ nhựa đựng mấy con cá nục. Người nhỏ thó, da đen bóng, hai bàn chân trần dính cát.
– Dạ. Phường thuê con vẽ lại.
– Vẽ lại là xóa hả?
– Dạ, sơn lót lên rồi vẽ cái mới, bà.
Bà cụ không nói gì nữa. Bà đứng nhìn con mèo ở góc tranh rất lâu, rồi quay đi, lội cát về phía mấy căn nhà mái tôn. Đi được một quãng, bà dừng lại, nói vọng về mà không quay đầu:
– Con mắt xanh đó tui tô lại hằng năm đó cô. Sau mỗi mùa bão.
— Hết chương 1 —

🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe