Chương 2: Cái thang tre buộc dây dù xanh
Tôi tên Lữ Phong, hai mươi chín tuổi, cán bộ văn hóa của phường. Tôi lớn lên trong xóm chài Hải Minh. Nhà tôi cách bức kè đúng năm mươi bước chân.
Cái thang tre buộc dây dù xanh là của ba tôi.
Năm tôi mười bảy tuổi, một đêm tháng Tư, tôi đi bắt còng ngoài bãi về thì thấy cái thang của ba dựng bên hông kè, và một chị gái tóc buộc khăn đang đứng trên đó, cầm cây cọ to bằng cái chổi, quệt sơn lên tường dưới ánh một cây đèn pin kẹp vào nấc thang. Tôi đứng nhìn rất lâu. Chị không biết. Tới khi chị leo xuống lấy thêm sơn, cái thang lắc, tôi chạy tới giữ.
– Em là chủ cái thang hả? – chị hỏi. – Chị xin lỗi. Chị mượn hai đêm rồi. Mai chị trả.
– Chị cứ dùng đi. Ba em đi biển mười ngày mới về.
Hai đêm tiếp theo tôi giữ thang cho chị. Chị ít nói. Chị chỉ nói về màu. Màu nước biển lúc năm giờ sáng khác lúc năm giờ chiều thế nào. Áo bà ba của mấy bà đợi thuyền phai từ tím sang xám ra sao. Đêm thứ hai, chị cho tôi nửa ổ bánh mì chả cá, bảo tôi cầm cái đèn pin rọi giùm vào góc dưới, rồi chị vẽ con Ma Lanh, con mèo của bà Tư bán nước mắm đầu xóm. Vẽ xong con mắt vàng, chị lục cả túi sơn không còn màu xanh nào. Chị lấy màu xanh dương pha với một chút trắng, chấm vào mắt bên kia.
– Nó đâu có xanh dữ vậy chị. – tôi nói. – Mắt nó xanh nhạt hơn.
– Ừ. Thì để vậy. – chị cười. – Mai mốt có ai thấy sai thì người đó sửa.
Sáng hôm sau chị đi. Tôi không biết tên chị.
Mười hai năm, bức tranh trên kè Hải Minh thành một thứ của xóm. Khách du lịch đi ngang chụp ảnh. Đám cưới trong xóm chụp ảnh cưới trước con thuyền mũi đỏ. Mấy bà đợi thuyền trong tranh được người ta đặt tên theo mấy bà đợi thuyền thật. Mỗi năm sau mùa bão, sóng đánh lên kè, sơn bong, thì bà Sáu Lựa, góa chồng từ năm chồng bà đi biển không về, lại xách một hộp sơn nhỏ leo lên tô lại con mắt xanh của con mèo. Bà không tô chỗ nào khác. Chỉ con mắt. Hỏi thì bà bảo con mèo đó canh kè, mắt nó phai là xui.
Tháng Sáu năm nay, dự án đường đi bộ ven biển được duyệt. Bức kè phải sửa, gia cố, làm lan can. Và bức tranh, theo hồ sơ thiết kế, là "tranh tường cũ, xuống cấp, không rõ tác giả, đề nghị thay thế bằng tranh mới phù hợp cảnh quan". Tôi là người phải lo phần đó.
Tôi nhớ lần đầu tiên thấy bà Sáu tô mắt con mèo. Đó là mùa bão năm tôi mười tám tuổi, sau trận bão lớn làm sập nửa dãy nhà mái tôn đầu xóm. Sáng ra cả xóm đi dọn, còn bà Sáu, nhà bà cũng bay mất nửa mái, lại xách một hộp sơn đi ra kè. Tôi đứng sau lưng bà, thấy bà pha màu trong một cái nắp lon sữa, lấy que tăm quấn bông gòn chấm vào. Tôi hỏi bà sao không lo sửa mái nhà trước. Bà bảo mái nhà thì chiều thằng Tèo nó sửa, còn con mắt này không ai sửa thì nó mù. Bà nói chữ mù như nói về một người thật.
Tôi đi tìm họa sĩ. Tôi xem cả trăm trang giới thiệu tranh tường trên mạng, của Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang. Tới một trang giới thiệu khá nghèo nàn của một chị họa sĩ tên Cù Thị Diềm, tôi lướt qua mười mấy bức tranh ở quán cà phê, trường mầm non, khu vui chơi. Và tôi thấy, ở góc dưới bên phải của gần như mọi bức, có một con mèo mướp nhỏ ngồi liếm chân. Một mắt vàng. Một mắt xanh.
Tôi ngồi trước màn hình máy tính trong phòng làm việc của phường tới tám giờ tối, phóng to từng con mèo một.
Rồi tôi gọi cho chị.
Chị không nhận ra giọng tôi. Hẳn nhiên rồi. Thằng nhóc mười bảy tuổi cầm đèn pin năm ấy giờ đã đổi giọng, đổi cả cách nói, quen nói chữ "phương án" với chữ "hạng mục". Chị nhận việc ngay, chỉ hỏi một câu về hạn hoàn thành, không hỏi gì về bức tranh cũ.
Tôi biết chị biết. Và tôi muốn xem chị sẽ làm gì. Trong ngăn kéo bàn làm việc của tôi có một thứ, tôi đã mất ba cuộc họp mới có được, nhưng tôi chưa đưa nó ra. Tôi tự nhủ là chưa tới lúc.
Hôm chị tới, tôi đứng trên lầu hai của trụ sở phường nhìn ra, thấy chị leo lên kè, cạo thử góc tranh chỗ con mèo bằng móng tay. Rồi chị ngồi xuống bậc kè, lưng quay ra biển, ngồi như thế gần một tiếng đồng hồ.
— Hết chương 2 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe