Chương 2: Một sao
"Một sao. Ga giường có rệp. Tôi bị cắn khắp người. Chủ nhà không xin lỗi mà còn nói tôi tự mang rệp tới."
"Một sao. Cá chiên đã ôi, cả nhà tôi đau bụng. Không bao giờ quay lại."
"Một sao. Bà chủ chửi khách như hát hay. Tránh xa."
Bốn mươi mốt cái, trong mười ngày. Có cái viết tiếng Việt, có cái viết tiếng Anh lủng củng như máy dịch. Thuỳ ngồi đọc từng cái trên bậc thang nhà sàn, tay run tới mức điện thoại rơi xuống bậc dưới. Tạo nhặt lên, đọc, mặt sẫm lại.
Lượng đặt phòng tháng Mười từ kín sáu phòng tụt xuống còn hai. Rồi một. Có một đoàn khách Pháp đã đặt ba phòng cho dịp cuối tháng gửi thư hỏi chuyện rệp, rồi hủy.
Thuỳ ngồi trả lời từng cái. Đêm đầu tiên cô trả lời bằng giận. "Chị nói láo." "Nhà tui không có rệp." "Chị tới đây hồi nào mà tui không biết mặt." Tạo đọc qua vai cô, lấy điện thoại khỏi tay cô.
– Em viết thế người ta lại bảo đúng là bà chủ chửi khách.
– Thì anh viết đi!
Tạo không viết. Anh chèo thuyền đi thả lưới tới tận khuya.
Hôm sau, phòng số hai có đúng một cặp khách, hai vợ chồng người Hà Lan ngoài sáu mươi, đạp xe từ Huế ra, đặt phòng từ trước lũ. Tối đầu tiên, ông chồng xuống bếp, cầm điện thoại, ngập ngừng hỏi Thuỳ bằng thứ tiếng Anh chậm rãi: "Chúng tôi đọc thấy người ta viết về rệp. Chúng tôi không tin, nhưng vợ tôi hơi sợ."
Thuỳ không giải thích. Cô lên phòng số hai, lật tấm nệm lên, lật cả tấm ga, soi đèn pin từng đường may, từng khe gỗ của cái giường, để hai vợ chồng đứng xem. Rồi cô làm y như vậy với phòng số một, số ba. Bà vợ đứng xem một lúc thì bật cười, bảo thôi được rồi, được rồi. Sáng hôm sau, lúc trả phòng, ông chồng nói ông sẽ viết một đánh giá. Thuỳ nói ông viết đúng những gì ông thấy là được, đừng viết giúp con.
Ông viết đúng ba câu. Nệm sạch. Cá ngon. Con gà gáy sớm.
Tối đó, ngân hàng gọi. Cô nhân viên tín dụng hỏi khéo kỳ trả nợ tháng Mười Một có đúng hẹn được không, vì cô thấy trang đặt phòng của nhà mình dạo này "có vấn đề". Thuỳ nói vẫn đúng hẹn. Cúp máy, cô ngồi nhẩm. Sáu triệu tám một tháng. Hai phòng thì không đủ.
Ngày thứ ba, Thuỳ đếm. Mười chín trong bốn mươi mốt cái là của những tài khoản mới tạo trong tháng, chưa đánh giá chỗ nào khác. Mười hai cái được viết trong cùng một buổi tối. Cô mở bản đồ, dò lại từng ngày khách ghi là đã ở. Trang đặt phòng cho người đánh giá chọn tháng lưu trú, không cho chọn ngày, nhưng nhiều người viết rõ ngày trong bài.
"Đêm mười lăm tháng Chín, tôi bị cắn khắp người."
"Cuối tuần mười bốn, mười lăm, tôi và gia đình ăn cá ôi."
"Sáng mười bảy, bà chủ quát tháo khi tôi xin thêm nước nóng."
Thuỳ ngồi im rất lâu. Rồi cô đứng dậy, đi ra lan can, nhìn sang bên kia sông. Nhà nghỉ ba tầng của nhà ông Thắng đã sáng đèn, cái hồ bơi xanh lét như cục ngọc.
Đêm mười lăm tháng Chín, nhà cô ngập tới đầu gối. Không có một vị khách nào ngủ ở đây.
Sáng hôm sau, Thuỳ chèo thuyền sang bờ nam.
Đò ngang chưa chạy, cô tự chèo cái thuyền nhỏ của Tạo. Lúc buộc thuyền ở bến bên kia, cô thấy Khoa đứng ở đầu bến, tay cầm cốc cà phê, đang nói chuyện điện thoại. Cậu thấy cô thì ngưng nói, gật đầu chào. Thuỳ không chào lại. Cô đi thẳng lên dốc, cảm thấy ánh mắt cậu dõi theo sau lưng mình cho tới khi khuất hàng tre. Cô không định sang nhà ông Thắng. Cô sang uỷ ban xã, xin xác nhận nhà nghỉ đóng cửa vì lũ từ ngày mười hai tới ngày mười chín. Anh cán bộ văn hoá xã quen cô, mở danh sách các hộ bị ảnh hưởng lũ ra cho cô xem. Tên nhà cô nằm ở dòng thứ bảy, có ghi chú "đã sơ tán khách".
Chiều hôm đó, Thuỳ viết lại các câu trả lời. Không còn chữ "nói láo" nào. Cô viết, với từng cái có ngày:
"Dạ, đêm mười lăm tháng Chín, nhà con đóng cửa do lũ, nước ngập gầm sàn, không có khách lưu trú. Con gửi kèm ảnh nhà ngập đêm đó và xác nhận danh sách hộ ảnh hưởng lũ của xã. Nếu anh chị ở một nhà nghỉ khác và nhầm tên, con rất mong anh chị kiểm tra lại. Nếu anh chị thật sự bị rệp ở nhà con vào ngày khác, xin nhắn cho con số đặt phòng, con hoàn tiền và mời anh chị quay lại ở miễn phí để con được sửa sai."
Mười bảy cái có ngày rơi đúng vào tuần lũ. Cô trả lời cả mười bảy cái như thế. Hai mươi bốn cái còn lại không ghi ngày, cô trả lời câu sau, câu mời số đặt phòng. Không ai gửi số đặt phòng.
Rồi cô làm thêm một việc mà Tạo không hiểu. Cô mở lại cái đánh giá hai sao của bà Khuyên, đọc lại từng chữ. "Gáy liền mười lăm phút." "Tôi lên đây để nghỉ."
Cô gọi điện cho mẹ.
– Mẹ ơi, gà trống gáy ba giờ là tại răng?
Mẹ cô cười khục khục trong điện thoại, nói tại nó thấy sáng. Cây khế sát cửa sổ phòng số bốn, mà ngay dưới cây khế là cái đèn đường của xã mới lắp năm ngoái. Đèn sáng suốt đêm. Con gà ngủ dưới đèn thì nó tưởng trời sắp sáng, nó gáy.
Thuỳ đứng ở lan can, nhìn cái đèn đường. Năm ngoái lắp đèn. Bà Khuyên là người đầu tiên viết về chuyện gà gáy. Trước năm ngoái, Ông Tướng gáy lúc bốn rưỡi, năm giờ.
Đêm đó, Tạo đóng một cái chuồng gỗ có mái che kín, đặt ở góc vườn sau, xa đèn đường. Ông Tướng bị nhốt vào, kêu quang quác phản đối tới nửa đêm.
Nửa đêm, có tiếng mái chèo khua nước dưới bến.
— Hết chương 2 —

🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe