Chương 2: Năm 2001
Thằng bé ngồi một mình dưới gốc phượng giữa trưa, lúc cả trường đã về hết.
Thơ ba mươi hai tuổi, dạy ở trường đã mười năm, đi ngang sân trường để ra nhà xe thì thấy nó. Trương Bá Lân, lớp 10A3, lớp cô chủ nhiệm. Một thằng bé ít nói, gầy nhom, nhà ở xóm chài bên kia sông Cà Ty, cha đi biển, mẹ bán bánh căn ở chợ. Nó ngồi xếp bằng trên ghế đá, cúi gằm, hai tay đang làm gì đó rất tỉ mỉ.
Cô đi lại gần. Nó đang gấp bướm phượng.
Trên ghế đá trước mặt nó đã có ba con, xếp thẳng hàng. Cô định khen một câu, thì cô khựng lại.
Cái đầu của ba con bướm. Cánh cờ cuộn tròn như cái kén nhỏ.
– Lân, – cô nói, và cô nghe giọng mình lạ đi. – Ai dạy em gấp kiểu này?
Thằng bé ngẩng lên, giật mình, rồi đứng dậy khoanh tay chào cô.
– Dạ, chị dạy em.
– Chị nào?
Lân chỉ về phía gốc phượng, chỗ cái rễ to nhất nổi lên như lưng con trâu nằm.
– Dạ, chị ngồi đó. Trưa nào em ở lại chờ mẹ dọn hàng xong qua chở, chị cũng ngồi đó. Chị dạy em gấp bướm, chị nói gấp bướm đầu cánh cờ thì bướm mới bay được.
Thơ nhìn về phía cái rễ cây. Không có ai. Chỉ có hoa phượng rụng đỏ một khoảng, và mấy vệt nắng trưa lọt qua tán lá.
– Chị ấy là học sinh trường mình à? Lớp mấy?
Lân gãi đầu.
– Dạ, em không biết. Chị mặc áo trắng, quần xanh, đeo khăn quàng... à không, chị lớn rồi, không đeo khăn quàng. Chị có cái kẹp tóc hình con cá. Chị nói giọng nhà mình, giọng nước mắm lắm. – Nó cười. – Chị hay chọc em, nói em gấp xấu như cua bò.
Cô nghe cái kẹp tóc hình con cá, và cô phải vịn tay vào thân cây.
Mấy tuần sau đó, cô cố gắng tìm cho ra người con gái Lân gặp. Cô hỏi các lớp, hỏi giáo viên trực trưa, hỏi bác Ba Tòng. Không ai thấy một nữ sinh nào ngồi dưới gốc phượng buổi trưa. Bác Ba Tòng nói buổi trưa bác hay ngủ một giấc trong phòng bảo vệ, nhưng bác nhìn ra sân qua cửa kính thì chỉ thấy mỗi thằng Lân ngồi một mình, cúi đầu nói chuyện với cái gốc cây.
Cô tìm cách giải thích. Cô nghĩ Lân có thể học kiểu gấp ấy từ một người nào đó trong xóm, một bà cô, một bà dì. Cô hỏi Lân. Lân lắc đầu, nói nhà nó toàn con trai, không ai biết gấp bướm. Cô hỏi tới mẹ Lân, người bán bánh căn ở chợ. Bà mẹ cười, nói bà bận bán, nào có thời giờ gấp bướm với hoa.
Cô định bỏ qua. Cô là giáo viên dạy Văn. Cô biết trí tưởng tượng của một đứa trẻ mười lăm tuổi cô đơn có thể làm ra những gì.
Rồi tới ngày bế giảng. Học trò chuyền tay nhau những cuốn lưu bút, ép đầy bướm phượng. Lân đến bàn giáo viên, đưa cho cô một con bướm phượng gói trong giấy pơ-luya.
– Chị gửi cô, – nó nói. – Chị nói chị nợ cô một con. Chị nói hôm đó chị chưa kịp làm.
Thơ cầm con bướm. Cô không nói được gì. Cô chỉ hỏi được một câu, cổ họng nghẹn lại:
– Chị ấy có nói tên không, Lân?
Lân nghĩ một lúc.
– Dạ không. Mà em nghe chị tự kêu tên mình một lần, lúc chị gấp hỏng một con, chị chửi yêu: "Cúc Mắm ơi là Cúc Mắm, mày dở quá."
Chiều hôm đó, Thơ đạp xe qua xóm Đức Thắng. Lần đầu tiên sau mười lăm năm.
Nhà Cúc vẫn ở chỗ cũ, cuối con hẻm cát dẫn ra biển, nhưng xưởng nước mắm đã dẹp, mấy cái thùng gỗ chượp to như cái bồn tắm giờ úp ngược làm chuồng gà. Mẹ Cúc đã gần bảy mươi, ngồi vá lưới ngoài hiên. Bà nhận ra Thơ ngay, gọi tên Thơ trước khi Thơ kịp chào.
Thơ hỏi bà có ai trong nhà, trong họ, biết gấp bướm phượng kiểu của Cúc không. Bà lắc đầu. Cúc là con một. Kiểu gấp ấy Cúc tự nghĩ ra năm mười ba tuổi, ngồi dưới cây phượng đầu xóm, chẳng ai dạy. Cúc mất rồi thì cái kiểu ấy mất theo.
– Có đứa nhỏ nào hỏi bác về Cúc không bác? Một thằng bé tên Lân, nhà bên xóm chài?
Bà nghĩ một lúc, rồi lắc đầu lần nữa.
Lúc Thơ đứng dậy về, bà dắt Thơ vào thắp nhang. Trên bàn thờ, tấm ảnh Cúc chụp năm lớp mười, đen trắng, đã ố, tóc cột thấp, cười toe toét, trên mái tóc là cái kẹp hình con cá. Trước tấm ảnh, trong cái đĩa sứ nhỏ, có ba con bướm phượng còn tươi, cánh đỏ, đầu là cánh cờ cuộn tròn.
– Ai để đây vậy bác?
Bà nhìn cái đĩa, như giờ mới thấy.
– Bác tưởng con để. Mùa phượng năm nào cũng có, sáng ra là thấy.
Thơ về nhà, mở cuốn lưu bút cũ. Chín mươi chín con bướm khô. Cô đặt con bướm của Lân bên cạnh, nhìn rất lâu, rồi cô lấy nó ra, gói lại, cất vào ngăn kéo riêng.
Không phải. Con bướm của Lân đẹp, đúng kiểu, nhưng cánh cờ cuộn hơi lỏng tay, như người mới học. Không phải tay Cúc. Cô biết, vì cô đã ngồi nhìn tay Cúc gấp suốt một mùa hè.
Cô không biết người ngồi dưới gốc phượng với Lân là ai. Hay có ai không. Có thể Lân đã nghe cái tên Cúc Mắm từ một người già nào đó trong phường. Có thể không. Cô không bao giờ hỏi thêm. Năm sau Lân chuyển trường theo gia đình vào Vũng Tàu. Cô không gặp lại nó nữa.
Nhưng từ năm ấy, mỗi mùa phượng, Thơ đều ra ngồi dưới gốc cây vào buổi trưa, một lúc thôi, sau khi học trò về hết. Cô không làm gì. Cô chỉ ngồi.
— Hết chương 2 —

🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị