Chương 3: Đội sản xuất số bốn
Nông trường cao su ấy giờ thuộc một công ty, nằm sâu trong một xã giáp biên giới. Uyển xin nghỉ phép năm ngày, đi máy bay vào Sài Gòn rồi thuê xe đi tiếp. Đại uý Nghị đã liên hệ với công an địa phương, xác minh người tên Tống Văn Hoà, sinh năm 1968, đang sống ở khu nhà công nhân của đội số bốn. Anh nói với chị: về mặt pháp lý, đây là một hồ sơ người mất tích cần làm rõ danh tính. Nhưng chú chị là gia đình chị. Gặp hay không, nói gì, là việc của chị.
Rừng cao su tháng Mười một xanh thẫm, những hàng cây thẳng tắp chạy hút tầm mắt, lá rụng vàng xào xạc dưới bánh xe. Khu nhà công nhân là một dãy nhà cấp bốn lợp tôn, trước cửa phơi mấy cái áo bạc màu và những đôi ủng cao su.
Người đàn ông ngồi trên cái ghế nhựa trước căn nhà cuối dãy, đang mài con dao cạo mủ trên một hòn đá. Ông nhỏ thấp, tóc bạc gần hết, da đen sạm. Nghe tiếng xe, ông ngẩng lên.
Uyển xuống xe. Chị không biết nên gọi thế nào. Chị đứng trước mặt ông, cách hai bước chân.
– Chú Huề.
Con dao rơi khỏi tay ông, cắm xuống đất.
Ông không chạy. Ông không chối. Ông nhìn chị rất lâu, như tìm trên mặt chị một nét gì quen. Rồi ông hỏi:
– Con… con của anh Cả hả?
– Dạ. Con là Uyển. Năm chú đi, con hai tuổi.
Ông cúi gập người xuống, hai tay ôm lấy đầu.
Họ ngồi trong căn nhà một gian, trên tường dán tờ lịch của công ty. Ông pha cho chị một ấm trà xanh, tay run làm đổ nước ra mặt bàn. Rồi ông kể.
Năm 1993, chú Huề hai mươi lăm tuổi, đi làm thuê trên sà lan cát, mê đánh bài. Chú nợ một đám cho vay ở thị trấn gần chục triệu, chúng doạ sẽ tới nhà. Chiều mười hai tháng Chín, chú hỏi vay Sinh. Sinh không có tiền riêng, nhưng thương bạn, bảo chú cứ đưa cái đồng hồ đây, Sinh cầm giùm cho đám kia, khất thêm một tháng. Tối ấy trời lạnh, mưa lớn, Sinh mặc ướt hết, chú cởi cái áo bộ đội khô đưa Sinh mặc.
Mười một giờ đêm, sà lan đứt neo.
– Nó lật nhanh lắm con ạ, – chú Huề nói. – Chú bị hất xuống nước, quờ được một khúc gỗ trôi. Chú nghe thằng Sinh kêu phía sau. Chú quay lại, không thấy gì hết, chỉ có nước. Chú bám khúc gỗ trôi tới gần sáng, dạt vào một bãi ngô bên kia sông.
Chú nằm trong một cái chòi canh ngô hai ngày, sốt li bì. Ngày thứ ba, chú đi bộ ra chợ, nghe người ta kể: sà lan nhà ông Đính lật, thằng Huề chết đuối, thằng Sinh ôm tiền trốn mất.
– Rồi ngày thứ sáu, người ta vớt được cái xác mặc áo của chú, đeo đồng hồ của chú, – chú Huề nói. – Cả nhà mình nhận. Chú nấp sau bụi tre đầu làng, nhìn đám tang của chính mình.
– Sao chú không ra?
Chú Huề ngẩng lên. Đôi mắt chú đỏ, nhưng không có nước mắt.
– Chú hèn, con ạ. Chú nghĩ, chú ra thì đám cho vay lại tới nhà. Chú nghĩ, chú chết rồi thì nợ cũng chết theo, mẹ chú không bị ai tới đòi. Chú nghĩ, thằng Sinh đã chết rồi, chú nói ra cũng không sống lại được. Chú bắt xe vào Nam. Chú đổi tên Huề thành Hoà, nói với người ta là mất giấy tờ trong lũ.
Ông ngừng lại rất lâu.
– Chú không nghĩ người ta sẽ nói thằng Sinh ăn cắp. Năm năm sau, chú gặp một người làng đi làm cao su, nó kể ông Đính mất bến, bán nhà. Chú mới biết. Lúc đó chú càng không dám về.
Uyển ngồi im. Ngoài kia, gió thổi qua rừng cao su, lá rụng lộp độp trên mái tôn.
– Ba mươi tiền triệu đó, – chị hỏi, – Sinh có mang theo không chú?
– Có. Nó gói trong ni lông, nhét bụng áo. – Chú Huề nhắm mắt. – Trong cái áo bộ đội của chú.
Uyển nhớ ra cái túi ni lông buộc dây chun mà ông Cửu lái đò kể, và dòng biên bản năm 1993 đại uý Nghị đã đọc cho chị nghe: trên thi thể, ngoài đồng hồ, có một túi ni lông rách, bên trong không còn gì. Ba mươi triệu của ông Đính đã trôi theo lũ từ đêm ấy. Không ai để ý cái túi, vì người ta tin đó là chú Huề, và chú Huề thì không có tiền.
– Bà nội thấy chú trên ti vi năm hai nghìn lẻ tám, – chị nói. – Bà nhìn thấy cái răng. Cả nhà bảo bà lẩn thẩn.
Lần đầu tiên, chú Huề khóc.
Một tuần sau, Uyển đưa chú Huề về. Chú không về nhà trước. Chú bảo chị chở thẳng tới xóm chài cuối bãi.
Bà Mão ngồi trên cái chõng tre ngoài hiên, như lần trước. Chú Huề bước tới, quỳ xuống nền đất trước mặt bà, cúi đầu sát đất. Chú kể lại, từ đầu tới cuối, cái áo bộ đội, cái đồng hồ, cái túi ni lông, tiếng kêu trong nước lũ. Cả xóm kéo tới đứng ngoài hàng rào nghe.
Bà Mão nghe hết, không ngắt lời. Rồi bà đặt bàn tay khô gầy lên đầu chú Huề.
– Thằng Sinh nhà tui thương bạn, – bà nói, đủ to để cả xóm nghe thấy. – Nó không ăn cắp của ai.
Cuối tháng ấy, họ Lã đón hài cốt Lã Văn Sinh về đặt trong khu nghĩa trang mới, cạnh mộ ông Đính. Họ Tống đến dự đông đủ. Chú Huề đứng cuối hàng, đội cái nón lá cũ, không dám đứng gần.
Còn ngôi mộ mang tên Tống Văn Huề ở khu nghĩa trang tập trung thì bố Uyển cho đục bỏ tấm bia.
Buổi chiều, chú Huề về nhà bà nội. Bà nội ngồi trên cái giường tre trong gian buồng tối, đôi mắt mờ đục gần như không còn nhìn thấy gì. Chú quỳ xuống cạnh giường. Bà đưa tay lần trên mặt chú, từ trán xuống mũi, xuống môi.
Rồi bà ấn ngón tay cái lên hàm răng trên của chú, đúng chỗ cái khe hở hình tam giác.
– Đây rồi, – bà nói. – Bà bảo rồi mà.
— Hết —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe