Chương 3: Đêm thứ ba
Ghi lần chót.
Đêm thứ ba cô Dung xin tới ngồi chung. Tôi không cản. Cô mang theo một hộp bánh bò, một bình cà phê sữa đá, và một cái gối ôm, như đi coi đá banh khuya. Hai chú cháu ngồi trên hai cái ghế đẩu, cái máy ở giữa. Cô ngồi cách nó xa nhất mà vẫn còn nhìn thấy mặt số.
Chừng hai giờ, cô kể chuyện má cô cho tôi nghe. Bà Sương may đồ cho người ta suốt bốn chục năm trên một cái máy may đạp chân, may áo bà ba, may đồng phục học trò. Tiền dư bà bỏ hết vô một cái hộp thiếc, mỗi năm đem ra đóng tiền đăng tin. Sau này có điện thoại, có mạng, cô Dung lên mấy nhóm tìm người thân, đăng hình anh hồi bốn tuổi, tấm duy nhất còn lại, mặt tròn, tóc cắt ngố, mặc áo thun có hình con vịt. Không ai nhận.
– Tháng ba năm chín tám má em mổ ruột thừa, nằm viện mười một ngày. – Cô nói. – Đó là mười một ngày duy nhất trong đời má không nghe đài lúc bốn giờ mười lăm. Ra viện, má hỏi em có ai nhắn gì không. Em nói không. Em có nghe đâu mà biết. Má em hỏi câu đó tới lúc mất.
Bốn giờ mười, có cái mùi.
Cô Dung nắm cánh tay tôi. Tay cô lạnh ngắt, móng tay bấm vô da tôi.
Bốn giờ mười lăm, mặt số sáng. Lần này sáng nhanh, sáng gắt, cái màu cam chiếu lên trần tôn, lên mặt cô, lên tấm lịch treo tường. Tiếng rè chỉ kêu chừng một giây rồi lặng. Khúc đàn tranh vang lên trong vắt, như đài phát ngay sau vách. Rồi giọng người đàn bà ấy.
Không có rè. Không đứt quãng. Từng chữ một.
«Tin nhắn thứ mười bảy. Ông Phạm Văn Hiếu, sinh khoảng năm bảy mươi chín, thất lạc mẹ tại bến xe Miền Tây năm một chín tám ba, khi đó khoảng bốn tuổi. Có nốt ruồi sau tai trái. Nhớ mẹ làm nghề may, nhà có cái radio vỏ gỗ, sáng nào mẹ cũng mở. Nay đang sinh sống tại xã… tỉnh Long An. Tìm mẹ, không nhớ tên mẹ, chỉ nhớ mẹ tên là má. Ai biết tin xin báo về…»
Rồi một cái địa chỉ. Đọc hai lần. Tôi ghi vô cuốn sổ này, ngay dưới dòng tên ông Hiếu ghi hôm trước, chữ to, đè lên dòng kẻ.
Mặt số tối. Tối hẳn. Không phải tối từ từ như hai đêm trước, mà tắt phụt, như có ai ngắt cầu dao.
Cô Dung không khóc. Cô ngồi im, nhìn cái máy, rồi nhìn cuốn sổ của tôi, rồi đọc lại cái địa chỉ bằng giọng thì thầm, như sợ đọc lớn thì nó bay mất.
Mấy ngày sau đó không phải chuyện của tôi, nhưng tôi ghi lại vì cô Dung có quay lại kể.
Cô chạy xuống Long An theo cái địa chỉ đó. Cái xã đó có thiệt. Cái ấp có thiệt. Người ta chỉ cô tới một căn nhà mái tôn bên kênh, có giàn bông giấy, có ông chủ nhà chừng bốn mươi bảy tuổi đang sửa máy bơm nước. Ông tên Hiếu. Không phải Phạm Văn Hiếu, mà Võ Minh Hiếu, theo họ của người cha nuôi nhặt ông ở bến xe năm đó. Sau tai trái có nốt ruồi.
Ông nói hồi trẻ ông có gửi tin lên đài tìm mẹ. Gửi đúng một lần. Năm chín mươi tám, tháng ba. Không ai trả lời, ông nghĩ mẹ không còn hay không muốn tìm, nên thôi.
Cô Dung đưa ông coi tấm hình đứa nhỏ mặc áo con vịt. Ông coi rất lâu. Rồi ông hỏi cái radio còn không.
Chủ nhật tuần đó, ông Hiếu theo cô Dung lên tiệm tôi. Người đàn ông đen nhẻm, tay to, móng tay dính dầu nhớt, đứng trước cái kệ mà không dám bước tới. Tôi cắm điện, bật lên cho ông coi. Đài đang phát cải lương, một câu vọng cổ mùi rệu. Ông đưa tay ra, không vặn núm âm lượng, không vặn núm dò đài, mà sờ lên tấm vải dệt sọc màu cà phê sữa trên mặt loa, chậm rãi, từ trên xuống dưới, như vuốt tóc ai.
– Hồi nhỏ tui hay lấy móng tay cào chỗ này. – Ông nói. – Má tui đánh vô tay tui một cái. Đánh nhẹ hều.
Tôi nhìn theo ngón tay ông. Ở góc dưới bên trái tấm vải, có một chỗ sợi dệt bị tưa, nhỏ bằng đồng xu, chỉ ai nhìn kỹ mới thấy. Ba mươi mốt năm sửa máy, tôi lật cái máy này ba ngày trời, không thấy chỗ đó.
Ghi thêm cho hết chuyện.
Cái máy tôi sửa xong, thay tụ, thay dây, nghe đài bình thường, tiếng ấm, rè ít. Cô Dung nói chú giữ luôn đi, em không lấy tiền, em không dám để nó ở nhà mà cũng không nỡ bán. Tôi để nó trên kệ trong cùng, chỗ tôi để mấy món đồ không bán.
Mười hai bữa nay nó không tự bật lần nào. Tôi biết vì đêm nào tôi cũng thức dậy lúc bốn giờ mười lăm. Không cần đồng hồ. Tự thức, như bà Sương.
Sáng nay tôi thức dậy, đi ngang cái kệ, rọi đèn coi. Cái máy rút điện, núm công tắc tắt, mặt số tối.
Nhưng cây kim đồng dò đài đã không còn đứng ở khoảng giữa băng sóng như hôm qua. Nó dịch về bên trái một chút. Tôi không đụng cái núm dò đài từ bữa trả máy cho cô Dung. Tôi coi kỹ, thấy rõ trên cái núm có một dấu tay, mờ mờ, in trên lớp bụi mỏng. Dấu tay nhỏ, như tay đàn bà, đầu ngón trỏ có vết chai của người cả đời cầm kim.
Tôi chưa lau. Tôi chưa biết có nên lau không.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị