Chương 1: Đêm thứ nhất
Ghi vô sổ cho nhớ, chớ không phải ghi để ai đọc. Tiệm Sáu Vững, sửa radio, cát-xét, âm-li đèn, hẻm sau dãy sạp chợ Nhật Tảo. Ngày mười bốn tháng chín âm lịch. Khách: cô Hồ Mỹ Dung, chừng năm mươi, ở bên Phú Nhuận. Máy: radio đèn bốn bóng, vỏ gỗ dầu, mặt vải dệt sọc màu cà phê sữa, kim dò đài bằng đồng, đời chắc cỡ sáu mấy. Bệnh: tự bật.
Ghi vậy thôi thì nghe như chuyện con nít. Để ghi cho rõ.
Cô Dung ôm cái máy vô tiệm lúc trời sắp mưa, quấn trong một cái khăn tắm màu hồng, ôm như ôm đứa nhỏ. Cô đặt lên bàn, gỡ khăn ra, rồi đứng lùi lại một bước, không đụng nó nữa. Tôi hỏi bệnh gì. Cô nói máy của má cô, má mất hồi tháng sáu. Từ đó tới giờ, sáng nào cũng vậy, bốn giờ mười lăm, mặt số tự sáng lên, rồi kêu rè rè một hồi, rồi tắt.
Tôi hỏi cô có rút điện chưa. Cô nói rút rồi. Rút cả tuần. Cuộn dây điện cột lại bằng thun, nhét vô hộc tủ. Vẫn sáng.
Ba mươi mốt năm sửa đồ điện, tôi nghe khách nói đủ thứ. Máy tự bật, phần nhiều là công tắc lờn, tụ rỉ, hoặc đứa nhỏ trong nhà bấm rồi chối. Nhưng radio đèn không có pin. Không cắm điện thì bóng đèn không có gì để đỏ. Tôi nói với cô vậy, nói nhỏ nhẹ, vì thấy cô mất ngủ, mắt thâm như ai đánh.
– Thì vậy em mới đem tới chú. – Cô nói. – Chú cầm về coi giùm em mấy bữa. Em không dám để nó trong nhà nữa.
Tôi nhận. Ghi phiếu, tiền công chưa tính. Cô đi rồi, tôi lật ngửa cái máy, mở nắp lưng. Bên trong sạch tới lạ, không một sợi mạng nhện, không cứt gián. Bốn bóng đèn còn nguyên, có một bóng đã thay hồi sau này, chữ in trên bóng khác ba bóng kia. Biến thế nguồn còn thơm mùi vẹc-ni. Mấy con tụ giấy thì phồng hết, cái nào cũng có vết rỉ dầu nâu. Máy này người ta giữ kỹ lắm. Ai đó đã lau từng ngóc ngách bằng tăm bông.
Đêm đó tôi không về nhà. Vợ tôi mất sáu năm rồi, thằng con ở bển, nhà với tiệm cũng như nhau. Tôi trải chiếu dưới gầm bàn, như hồi trẻ chạy hàng gấp. Cái radio để trên bàn, dây điện tôi rút ra, cột lại bằng chính sợi thun của cô Dung, để cho thấy. Bên cạnh tôi để cái điện thoại, mở sẵn chỗ ghi âm.
Chợ Nhật Tảo ban đêm nghe được nhiều thứ ban ngày không nghe. Tiếng chuột chạy trên mái tôn. Tiếng ai kéo cửa sắt ở dãy bên kia, ken két một hồi dài. Mùi ẩm của đống loa cũ, mùi nhựa cháy của đống bo mạch người ta đốt lấy đồng hồi chiều còn sót lại. Tôi nằm nghe hết. Ba giờ thì tôi ngủ quên.
Tôi thức vì cái mùi. Không phải mùi gì lạ. Là mùi bóng đèn radio nóng, mùi bụi cháy trên thủy tinh, cái mùi mà ai từng ngồi bên một cái máy đèn đều biết. Mùi đó tôi nhắm mắt cũng nhận ra. Tôi mở mắt. Trên mặt bàn có một vệt sáng màu cam, chiếu xuống mép bàn, xuống tới chiếu.
Mặt số sáng. Cái kim đồng đứng ở khoảng giữa băng sóng trung, chỗ không có đài nào hết.
Điện thoại để bên cạnh tôi báo bốn giờ mười lăm.
Tôi không ngồi dậy liền. Nói thiệt, tôi nằm yên chừng một phút, nghe tim mình đập lên tới cổ. Cái máy kêu rè rè, đều đều, như mưa rơi trên mái lá. Rồi trong tiếng rè đó có một khúc nhạc. Ngắn lắm, chừng năm sáu nốt, đàn tranh, rồi tắt. Tôi biết khúc nhạc đó. Người Sài Gòn lớn tuổi ai cũng biết, nhạc hiệu của chương trình phát thanh buổi sớm hồi xưa, cái chương trình mà người ta bật lên lúc nấu nồi cơm đầu tiên trong ngày.
Rồi tiếng rè lớn lên, nuốt hết. Rồi tắt. Mặt số tối dần, như than trong lò hết lửa.
Tôi ngồi dậy, rờ cái máy. Vỏ gỗ lạnh. Nhưng tôi thò tay vô nắp lưng, rờ bóng đèn thứ hai. Bóng đèn ấm. Ấm như cái ly vừa uống trà xong.
Dây điện vẫn cột thun, nằm im trên bàn.
Sáng ra tôi mở lại cái ghi âm. Bốn giờ mười lăm, chỉ có tiếng rè, rè suốt ba phút hai mươi giây. Không có khúc đàn tranh nào hết.
— Hết chương 1 —

🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe