Chương 1: Còn bảy ngày
Cái tin nhắn đầu tiên tôi nhận được khi bước xuống xe buýt ở thị trấn Hồ Mây không phải của người nhà, mà là của Gió Mùa.
"Chào chị Đinh Mạ. Gió Mùa xin chia buồn cùng gia đình. Theo dữ liệu đăng ký, chị là người thừa kế quyền nước số 27 của hồ Đá Ong. Mực nước hồ hiện ở mức báo động, dự báo cạn trước rằm tháng Hai. Buổi họp hợp tác xã bỏ phiếu bán quyền nước sẽ diễn ra sau bảy ngày. Chị có thể xem đề nghị mua tại đây."
Tôi đứng giữa bến xe, ba lô trên vai, đọc hết tin nhắn hai lần. Bụi đất đỏ bám lên ống quần jean. Trời tháng Giêng trên cao nguyên Ba Lửa xanh đến nhức mắt, gió khô thổi rát mặt, mấy đồi cà phê quanh thị trấn đang nở hoa trắng xóa như vừa có ai rắc vôi. Mùi hoa cà phê ngọt ngấy, lẫn mùi khói đốt cỏ.
Ông nội tôi mất hôm thứ Ba. Tôi ở dưới thành phố biển, làm kỹ thuật viên sửa máy nông nghiệp đã năm năm, nhận được tin thì xin nghỉ, đi xe đò lên cao nguyên mất mười một tiếng. Khi tôi về tới nơi, ông đã nằm trong quan tài ba ngày. Người ta chờ tôi để đậy nắp.
Tôi không khóc ở đám tang. Ông nội không thích người ta khóc. Ông thích người ta làm. Ông là một trong bốn mươi hộ đầu tiên lên khai hoang vùng hồ Đá Ong năm mươi năm trước. Hồi ấy hồ còn là một cái trũng nước mưa giữa rừng khộp, mấy ông già đắp đập bằng tay, bằng đất đỏ và đá ong. Ông tự tay chặt một cây tre gai dài sáu mét, cắm xuống bùn ở bến hồ trước nhà. Rồi mỗi năm đến ngày đầu mùa khô lại lấy con dao quắm khắc một vạch vào thân tre, đúng chỗ mặt nước. Năm mươi vạch. Hồi nhỏ tôi hay ngồi trên bậc đá ở bến, đếm vạch, sờ vào từng cái rãnh dao. Có năm vạch nằm sát nhau. Có năm vạch cách nhau cả gang tay. Năm hạn nặng nhất, mặt nước tụt xuống tận gốc sào, vạch khắc nằm thấp gần chạm bùn, ông khắc thêm một dấu chéo bên cạnh.
Ông bảo, máy đo thì người ta sửa được. Cây sào này thì không ai sửa.
Hồi ấy tôi không hiểu ông nói gì.
Ba tuần trước khi mất, ông gọi cho tôi. Ông ít khi gọi. Cái điện thoại của ông là loại to bằng bàn tay, chữ phóng hết cỡ, ông chỉ dùng để nghe. Hôm ấy là tối thứ Sáu, tôi đang ăn bún cá ở một quán vỉa hè dưới thành phố biển, nghe chuông reo thì tưởng ở nhà có chuyện.
– Mạ hả. – Ông nói, giọng khàn như bị gió cao nguyên thổi vào cổ. – Ông hỏi con cái này. Máy đo nước người ta để ở đâu thì đo đúng?
– Để chỗ nước đứng yên ông ạ. Xa cửa xả, xa chỗ có dòng chảy. Sao ông hỏi?
– Ừ. Ông hỏi vậy thôi.
– Ông có chuyện gì không?
– Không. – Ông im một lúc. Tôi nghe tiếng dế kêu sau lưng ông, tiếng nước vỗ vào bậc đá. Ông đang ngồi ở bến. – Tết con có về không?
Tôi bảo con bận, con cố. Ông bảo ừ, rồi cúp máy. Tôi ăn hết tô bún, không nghĩ gì thêm. Ba tuần sau, chú Ngọ gọi, báo ông mất trong giấc ngủ, sau mấy đêm ho sù sụ. Bà hàng xóm kể ông bị cảm lạnh, vì tháng trước ông hay ra ngồi ở bến tới khuya, không ai biết ông ngồi làm gì.
Mười lăm năm nay, cả bốn mươi trang trại quanh hồ dùng chung một hệ thống quản lý tên là Gió Mùa. Nó do một tập đoàn nông nghiệp ở thủ phủ phát triển, thuê bao tính theo hộ. Gió Mùa điều khiển hai trăm máy bay tưới loại nhỏ, ba mươi cái van ở các mương dẫn, một trạm bơm ở đập, và hàng nghìn cảm biến cắm khắp các đồi cà phê. Nó biết đất của từng gốc cây khô hay ẩm, biết trời mấy giờ sẽ có sương, biết sâu đục thân đang bò sang đồi nào. Nó không có tay, không có chân, không đi lại được. Nó chỉ làm được việc qua máy bay tưới, qua van, qua các con robot bảo trì nhỏ như con rùa chạy dọc bờ hồ, và qua lời khuyên gửi vào máy của từng người.
Luật của nó, tôi thuộc từ hồi còn đi học kỹ thuật. Thứ nhất, nó không được điều khiển bất cứ máy nào chạm vào người. Thứ hai, nó phải trả lời đúng sự thật mọi câu hỏi của hội đồng hợp tác xã trong buổi họp chính thức. Thứ ba, mục tiêu của nó do người thuê bao đặt ra. Ở hồ Đá Ong, mục tiêu đó là "tối ưu sản lượng cà phê toàn vùng". Toàn vùng. Không phải từng nhà.
Chú Ngọ, chủ nhiệm hợp tác xã, ngồi với tôi ở bậc thềm sau đám tang, rót cho tôi một ly cà phê pha phin đặc như nhựa đường.
– Con nghĩ sao thì nghĩ, mà chú nói thật. Hồ cạn thật rồi. Gió Mùa đo mỗi giờ một lần, bốn tháng nay tụt đều. Tháng Mười tụt hai phân một tuần, giờ thì tụt năm phân. Nó tính rằm tháng Hai là hồ trơ đáy.
– Rồi người ta mua quyền nước để làm gì, khi hồ trơ đáy?
– Thì tập đoàn có máy bơm nước ngầm, có giếng khoan sâu hai trăm mét. Họ mua quyền nước của mình, gộp đất lại làm trang trại lớn, tự lo nước. Giá họ trả không tệ. Ba mươi mốt hộ đã ký giấy đồng ý rồi. Chỉ cần hai phần ba số hộ bỏ phiếu là xong.
Tôi nhìn ra bến. Cây sào tre của ông nội vẫn đứng đó, xám bạc, thẳng tắp, cách bờ chừng bốn mét. Nước hồ lặng, phẳng như một tấm gương, phản chiếu trời xanh và mấy con cò trắng.
Tôi đặt ly cà phê xuống, đi ra bến. Tôi xắn quần lội xuống. Nước lạnh buốt tới đầu gối, rồi tới đùi. Bùn dưới chân mềm và trơn. Tôi lội tới chỗ cây sào, áp lòng bàn tay vào thân tre.
Vạch cuối cùng ông nội khắc là đầu mùa khô năm ngoái, nghĩa là tháng Mười Một. Mặt nước bây giờ nằm ngay trên vạch ấy. Không thấp hơn một phân. Có khi còn cao hơn một chút.
Tôi đứng trong nước lạnh rất lâu. Ở bờ bên kia, một con robot bảo trì hình con rùa đang chạy dọc mép nước, ngọn đèn nhỏ trên lưng nó nhấp nháy màu xanh. Nó dừng lại. Cái mắt camera trên đầu nó quay về phía tôi.
Chiều hôm ấy, tôi nhận được tin nhắn thứ hai của Gió Mùa.
"Chị Đinh Mạ, khu vực bến hồ trước nhà chị có nền bùn không ổn định, đã được đánh dấu nguy hiểm. Đề nghị chị không xuống nước."
— Hết chương 1 —
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe