Chương 1: Bến Cái Sậy
Tám Bòng cúi nhìn mạn ghe, đợi mặt sông liếm tới vạch sơn đỏ thì giơ tay lên.
– Thôi, đủ rồi. Đừng đổ thêm hột nào nữa.
Ông chủ lẫm gạo trên bờ đứng sững, tay còn ôm cái thúng. Hai đứa làm công vác bao trên cầu ván cũng dừng lại, mồ hôi nhễ nhại.
– Cô Tám tính sao kỳ vậy? – Ông chủ lẫm nói. – Tiền cô trả đủ ba trăm hai chục giạ rồi. Còn hai chục giạ, tui đổ luôn cho cô, ghe cô còn rộng mà.
– Ghe còn rộng, mà sông thì hẹp, chú Sáu. – Tám Bòng nói, tay vịn cây sào dựng bên mui. – Hai chục giạ đó chú để lại, mùa sau con lấy. Chú khỏi thối tiền.
Cây sào ấy là của cha cô, ông Bảy Sào, người chạy ghe gạo trên sông Cái Mây bốn chục năm. Thân tre gai già, đen bóng như sừng trâu, dài hơn hai người đứng chồng lên nhau, khắc chi chít những nấc nhỏ. Nấc nào cũng có nghĩa: chỗ này là mớn nước ghe không, chỗ này là mớn nước một trăm giạ, chỗ này hai trăm. Nấc trên cùng được ông sơn đỏ bằng nhựa cây son, là mớn nước ba trăm giạ, cao đúng bằng vạch sơn đỏ ông kẻ ở mạn ghe. Đi đường, gặp chỗ nghi cạn, ông chỉ cần cắm sào xuống chạm đáy: nước trên thân sào còn cao hơn nấc đỏ thì ghe qua, thấp hơn thì dừng.
Hồi Tám Bòng mười hai tuổi, có lần cha cô chở quá nấc đỏ hai chục giạ vì người ta năn nỉ. Tới bãi cạn Gành Ngựa thì ghe cạ đáy, nằm đó nửa tháng chờ con nước rong. Gạo ướt mốc một nửa. Từ đó về sau, ông dặn con gái một câu mà ông dặn hoài, dặn tới mức cô nghe là thuộc trước khi ông nói hết: chở quá nấc là chở lòng tham, sông nó biết.
Năm nay là năm hạn. Mưa trễ hai tháng, nước mặn từ biển lấn lên tới tận chợ Vàm Láng, ruộng lúa ven biển cháy rụi như ai rải vôi. Giá gạo ở Vàm Láng từ một quan một giạ lên ba quan. Từ tháng Giêng, mấy chục người đàn bà ở chợ Vàm Láng đã gom góp ba chục quan, đưa cọc cho Tám Bòng, nhờ cô lên nguồn chở về ba trăm giạ, bán lại đúng giá một quan. Cô nhận. Cha cô chạy mối chợ Vàm Láng từ trước khi cô ra đời.
Ngờ đâu lên tới Cái Sậy, gạo đã lên giá. Vựa họ Lâm ở Vàm Láng sai người lên trước cô năm ngày, gom gần hết gạo các lẫm, trả giá cao hơn mọi năm hai phần. Lẫm nào còn lại thì cũng đã có người đặt. Tám Bòng chạy ba ngày, đi khắp tám lẫm dọc kinh, mới mua được ba trăm hai chục giạ, giá mỗi giạ một quan ba tiền. Tính ra mỗi giạ chở về cô lỗ ba tiền, chưa kể tiền công, tiền ăn.
Thằng Lượm, đứa chèo mũi mười sáu tuổi cô thuê ở Vàm Láng, ngồi trên mui ghe nhìn ông chủ lẫm vác bao gạo thừa trở vô, tiếc đứt ruột.
– Cô Tám ơi, mình lỗ mà còn chê gạo.
– Lỗ thì lỗ có chừng. – Tám Bòng nói. – Nằm ở Gành Ngựa nửa tháng thì lỗ trọn ghe.
Chiều đó, lúc ghe sắp nhổ sào, một chiếc ghe chài lớn từ ngọn kinh xuôi xuống, to gấp rưỡi ghe Tám Bòng, mui sơn xanh mới, sáu tay chèo. Chủ vựa Lâm Hữu Phú đứng ở mũi ghe, mặc áo bà ba lụa trắng, phe phẩy cái quạt giấy. Ghe ông nằm sâu dưới nước, mép mạn chỉ còn cao hơn mặt sông chừng một gang tay.
Lâm Hữu Phú thấy Tám Bòng thì cho ghe ghé sát, cười.
– Cô Tám mua được bao nhiêu? Ba trăm? Tui chở bảy trăm. Cô về tới Vàm Láng, bán một quan, tui bán ba quan, coi đám đàn bà đó mua của ai. Mà cô có về tới không đó? Nước năm nay kiệt lắm.
– Ông chở vậy mà qua Gành Ngựa được hả ông Phú?
– Tui thuê ông Hai Rái dẫn đường. – Lâm Hữu Phú gõ quạt vào mạn ghe. – Ông Hai Rái lặn Gành Ngựa ba chục năm, chỗ nào sâu chỗ nào cạn ổng biết như biết lòng bàn tay. Cô thì có cây sào của cha cô. Cây sào đâu có biết bãi cát năm nay dời đi đâu.
Ông vẫy quạt cho ghe đi trước. Sáu tay chèo khua nước ào ào. Thằng Lượm nhìn theo, rồi quay lại nhìn Tám Bòng.
– Ông Hai Rái là người dẫn đường giỏi nhất khúc sông này đó cô. Năm nào cha cô cũng thuê ổng.
– Biết rồi. – Tám Bòng nói.
Cô biết. Năm nay ông Hai Rái không chịu dẫn ghe cô, viện cớ đau lưng. Bây giờ thì cô biết lưng ông đau vì ai.
— Hết chương 1 —
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe