Chương 2: Nước đứng
Chín triệu bốn trăm nghìn. Đó là tiền dì Ba bán khóm hai buổi, tính giữ lại đóng tiền học cho thằng con út lên thành phố học cao đẳng.
Người ta xúm lại. Ghe này cặp ghe kia, ai cũng hỏi, ai cũng nói. Có người nói chắc rớt xuống sông, sóng ghe du lịch mạnh vậy. Dì Ba nói hộp thiếc để giữa tấm ván, sóng nào mà đẩy được tới mạn. Có người nói chắc khách trên ghe du lịch, mấy người đứng sát mạn chuyền khóm. Nhưng ghe du lịch cao hơn ghe dì cả thước, người ở trên cúi xuống thì được, chứ với tay lấy cái hộp ở giữa ván thì phải có tay dài như con vượn.
Ghe xám của người đàn ông nón tai bèo vẫn đậu sát bên. Ông ta đứng dậy, nói lớn rằng nãy giờ ông ngồi hút thuốc, không thấy ai, ông thề có trời.
Sáu giờ, hai anh công an phường chạy xuồng máy tới. Anh trẻ hơn tên Danh, người Khmer ở Sóc Trăng lên, nói tiếng Việt chậm mà rõ từng chữ. Anh Danh hỏi dì Ba từng chi tiết: hộp màu gì, lớn cỡ nào, ai đậu gần. Dì Ba chỉ vô ghe xám. Người đàn ông nón tai bèo giận đỏ mặt, nói ai muốn xét thì xét, ông không có giấu gì.
Anh Danh xin phép, bước qua ghe xám. Anh lật tấm bạt, mở khoang chứa, nhìn dưới sàn, gõ vô mạn ghe. Khoang chứa trống trơn, chỉ có mấy cái bao tải rỗng, một can nước, một cái bếp than nhỏ. Không có hộp thiếc, không có tiền, cũng không có củ khoai nào.
– Chú bán khoai, mà khoai đâu chú? – anh Danh hỏi.
– Bán hết rồi.
– Bán cho ai?
– Mối quen. Mối mua sỉ.
Anh Danh xem giấy tờ, ghi tên ông ta: Huỳnh Văn Lũy, quê Vĩnh Long. Không có gì để giữ. Anh ghi biên bản, nói dì Ba lên phường làm đơn trình báo, công an sẽ xem lại mấy đoạn video khách du lịch quay. Ghe du lịch đã chạy xa rồi, mấy chục khách, mấy chục cái điện thoại, xin lại từng người thì không biết tới chừng nào.
Dì Ba Kiểng ngồi bệt xuống tấm ván, giữa mấy chục trái khóm, không khóc, chỉ ngồi nhìn chỗ cái hộp từng nằm.
Liễu ngồi trên xuồng, cầm mái chèo, không chèo. Trong đầu Liễu, cái chợ nổi hiện ra như một tấm bản đồ, mỗi chiếc ghe là một ly cà phê. Ghe dì Ba, sữa đá nhiều sữa. Ghe chú Sáu, đen nóng. Ghe vợ chồng bán bưởi, đen đá với bạc xỉu. Ghe xám, không uống gì, khoai hết lúc năm giờ hai mươi.
Liễu nhớ một chuyện nữa. Lúc năm giờ hai mươi Liễu ghé ghe xám, chùm khoai trên cây bẹo có mười mấy củ. Bây giờ, sáu giờ mười, Liễu ngước lên. Chùm khoai vẫn còn đó, vẫn mười mấy củ, buộc dây ni lông xanh.
Ghe bán hết khoai, mà khoai trên cây bẹo không bớt củ nào.
Người bán ghe ở chợ nổi, Liễu biết, có khi treo trên cây bẹo một củ khoai cuối cùng để làm dấu, bán xong vẫn để đó cho người ta biết mình bán gì, mai còn quay lại. Nhưng không ai treo cả chùm mười mấy củ rồi nói hết hàng. Mười mấy củ khoai là hơn hai ký. Hai ký khoai mà Liễu hỏi mua, ông ta không bán.
Liễu chèo sang ghe chú Sáu hủ tiếu, đưa ly đen nóng thứ hai trong buổi sáng mà chú chưa kịp gọi. Chú Sáu bán ở chợ này ba chục năm, ghe nào lạ ghe nào quen chú biết hết.
– Chú Sáu, ghe xám đó chú thấy bao giờ chưa?
Chú Sáu thổi ly cà phê, nheo mắt nhìn qua.
– Chưa. Ghe khoai ở đây toàn ghe Bình Tân xuống, chở khoai ruột vàng, ghe nào cũng sơn xanh sơn đỏ, chú quen mặt hết. Khoai tím thì lâu lâu mới có. Mà ghe khoai gì nhỏ xíu vậy, chở được bao nhiêu.
– Dạ, ổng nói ổng bán hết rồi.
– Bán hết lúc mấy giờ?
– Năm giờ hai mươi.
Chú Sáu đặt ly cà phê xuống, nhìn Liễu lâu hơn mọi ngày.
– Con nói với công an chưa?
– Dạ chưa. Con nói, người ta nói con nít biết gì.
Chú Sáu gật gù, không nói thêm, chỉ múc cho Liễu một chén hủ tiếu, không lấy tiền, như mọi khi chú vẫn làm lúc chợ vãn. Liễu ăn vội, mắt vẫn không rời ghe xám. Chùm khoai tím trên cây bẹo vẫn đong đưa nhè nhẹ, đẹp như trong mấy tấm ảnh khách du lịch chụp chợ nổi đăng lên mạng.
Liễu không nói gì thêm với ai. Liễu mười ba tuổi, người lớn đang lo chuyện người lớn. Liễu chèo xuồng đi bán tiếp, nhưng chèo vòng quanh, không đi xa khỏi ghe xám.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám