Chương 1: Cái trâm không run
Ông cụ đặt cái hộp nhung đỏ lên mặt tủ kính, mở nắp, rồi đẩy nó về phía tôi bằng đầu ngón tay, như người ta đẩy một con gián chết ra khỏi mâm cơm.
– Cô xem giùm tôi. Người ta bảo cái này giống hệt. Tôi thì thấy nó chả giống cái gì.
Trong hộp là một cây trâm vàng, đầu trâm là bông mai năm cánh, nhụy bằng mấy hạt vàng nhỏ như hạt kê. Tôi chưa cầm lên đã biết nó ra đời thế nào. Mép cánh đều tăm tắp, mặt vàng bóng như nước, ở cánh bên trái có một chỗ lõm tròn trịa như ai ấn đầu đũa vào, đường gân trên cánh sâu đúng bằng nhau từ gốc tới ngọn. Đúc khuôn sáp in máy, đánh bóng bằng bánh vải quay. Cả phố Hàng Bạc bây giờ chỉ có một chỗ làm được như thế: showroom Kim Phương ở đầu phố, chỗ có cái máy khắc laser đặt sau tấm kính cho khách đứng xem.
– Cụ đặt bên Kim Phương ạ?
– Mười tám triệu. Bốn ngày. – Ông cụ gõ ngón tay lên mặt kính. – Cậu thiết kế bên ấy giỏi, tôi không chê. Tôi đưa cái ảnh, cậu ấy phóng lên máy tính, đo từng li. Nhưng cái của bà nhà tôi, nó run.
Ông lấy trong túi áo ngực ra hai tấm ảnh. Tấm thứ nhất đen trắng, ố vàng, chụp một đám cưới ở cái sân gạch có giàn hoa giấy. Cô dâu tóc vấn cao, trên búi tóc cài một bông mai nhỏ. Tấm thứ hai là ảnh màu, rửa ở hiệu, chụp một người đàn bà tóc đã điểm bạc ngồi trên ghế mây, vẫn bông mai ấy cài bên thái dương.
– Bà nhà tôi đeo cây trâm ấy gần sáu mươi năm. Mỗi khi bà gật đầu, năm cái cánh nó rung rung, như có gió. Cái này, – ông hất cằm về phía hộp nhung, – cô lắc nó cũng không nhúc nhích.
Tôi hiểu ông nói gì. Ngày xưa thợ làm trâm hoa hay gắn cánh lên những sợi lò xo vàng xoắn nhỏ như sợi tóc, để khi người đeo cử động thì cánh hoa khẽ rung. Ông nội tôi gọi đó là trâm rung. Từ hồi tôi vào nghề tới giờ, chưa ai đặt.
– Cây trâm cũ đâu rồi ạ?
– Mất. – Ông cụ nói gọn. – Năm ngoái bà nằm viện Bạch Mai mười một ngày, lúc đi còn cài trên tóc. Lúc về thì không. Tôi hỏi khắp khoa, không ai thấy. Hai mươi sáu ngày nữa là giỗ đầu bà. Tôi muốn để lên ban thờ một cây trâm cho ra trâm.
Ông tên Viên Đình Chước, tám mươi mốt tuổi, ở phố Hàng Buồm. Bà vợ tên Ngà. Ông nói những cái đó như đọc một tờ khai, rồi nhìn quanh tiệm tôi một lượt. Tiệm rộng một mét tám, sâu hun hút, đằng trước là cái tủ kính bày vài chiếc nhẫn trơn, đôi hoa tai bạc, mấy sợi dây chuyền. Đằng sau là bàn thợ của ông nội tôi, mặt gỗ lim mòn thành một cái hõm ở chỗ ông tì ngực suốt sáu mươi năm.
– Cụ Khánh mất rồi phải không? – Ông Chước hỏi.
– Dạ, ông cháu mất được hai năm.
– Thế cô làm được không?
Tôi không trả lời ngay. Tôi tên Vương Minh Nhiên, hai mươi sáu tuổi, theo ông nội học nghề được ba năm thì ông đột quỵ. Hai năm nay tôi giữ tiệm bằng những việc nhỏ: hàn lại khoá dây chuyền, nới nhẫn, khắc tên, đánh bóng đồ bạc cho khách. Trâm rung thì tôi mới thấy ông làm đúng một lần, hồi tôi mười hai tuổi, ngồi trên cái ghế đẩu sau lưng ông, xem ông kéo sợi dây vàng qua bàn kéo hết lỗ này sang lỗ khác.
Đúng lúc đó có một chị khách vào, chìa ra chiếc nhẫn cưới bị nứt ở chân ổ. Tôi xin ông Chước chờ một lát, kẹp chiếc nhẫn lên cái kìm gỗ, soi dưới kính lúp. Ở mặt trong vòng nhẫn, sát chỗ nối, có ba chấm nhỏ xíu xếp hình tam giác, nhỏ đến mức phải nghiêng nhẫn dưới đèn mới thấy.
– Chiếc này ông cháu hàn rồi phải không chị?
Chị khách tròn mắt.
– Ừ, cụ Khánh hàn cho chị năm hai nghìn lẻ ba. Sao em biết?
Tôi chỉ cho chị ba cái chấm. Ông nội tôi có một cái đục đầu kim nhỏ bằng que tăm, món đồ nào qua tay ông sửa, ông chấm ba chấm vào chỗ khuất. Ông bảo: thợ phải biết việc của mình, để sau này nó hỏng thì biết là mình hỏng, không đổ cho ai. Tôi hàn lại chân ổ, rồi cũng lấy cái đục ấy chấm thêm ba chấm cạnh ba chấm cũ. Chị khách cười, trả năm mươi nghìn, đi.
Ông Chước ngồi xem từ đầu đến cuối. Lúc chị khách đi rồi, ông bảo:
– Cô cứ làm. Tôi không trả trước được nhiều, nhưng tôi có vàng.
Ông đặt lên mặt kính một cái khâu vàng ta hai chỉ, xỉn màu, có dấu răng cắn. Tôi cân, ghi giấy biên nhận, hẹn ông hai mươi ngày.
Chiều hôm ấy, Kiều Gia Phong, cậu thiết kế của Kim Phương, đi bộ từ đầu phố xuống, đứng ở cửa tiệm tôi, hai tay đút túi quần.
– Cụ Chước mang trâm sang em à?
– Anh biết rồi còn hỏi.
– Anh đoán thôi. – Phong cười. – Cả phố chỉ còn em là chưa có máy. Em biết cụ ấy đòi gì không? Cụ ấy không đòi cái trâm. Anh làm khuôn từ ảnh, sai số dưới hai phần mười li, cái vết móp ở cánh bên trái anh cũng làm cho. Cụ ấy vẫn trả lại. Cụ ấy đòi bà vợ cơ. Cái đó thì máy anh không làm được, tay em cũng không.
– Vết móp nào?
Phong rút điện thoại, phóng to tấm ảnh màu. Đúng là ở cánh mai phía trái, gần mép, có một chỗ lõm nhẹ, ánh đèn hiệu ảnh đọng lại thành một đốm sáng lệch.
– Cụ bảo bà đánh rơi cây trâm ở bến tàu điện năm sáu lăm. – Phong cất điện thoại. – Anh làm giả một vết móp y hệt, đẹp lắm. Cụ cầm lên, nhìn ba giây, bảo: vết này người ta làm ra, không phải rơi ra. Em định làm thế nào?
Tôi không có câu trả lời. Phong đứng thêm một lúc rồi bảo, giọng không hẳn là khiêu khích:
– Hỏng thì sang chỗ anh. Anh trả em mười lăm triệu một tháng, có bảo hiểm. Mẹ em cũng muốn em sang mà.
Cậu ấy nói đúng chỗ đau. Mẹ tôi muốn sang mặt bằng cho Kim Phương từ năm ngoái. Họ trả bốn mươi triệu một tháng tiền thuê, hơn gấp mười lần những gì tiệm tôi làm ra.
Tối đó tôi ngồi một mình trước bàn thợ của ông, thắp ngọn đèn dầu, cầm cái ống thổi bằng đồng ông để lại, và tự hỏi một vết móp làm ra với một vết móp rơi ra thì khác nhau chỗ nào.
— Hết chương 1 —

🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu