Chương 2: Còn năm ngày
Chuyện chị Thoảng, Nhum phải hỏi ba người mới ghép lại được.
Chú Sáu Kê kể rằng chị Thoảng về làm dâu Hòa Ký tám năm, khéo tay, ít nói, việc gì trong lò cũng làm được. Bà Hòa, ngồi têm trầu ở hiên, kể rằng năm ngoái đúng đêm nướng mẻ bánh dâng phủ thì có người bên kia sông chèo đò sang báo mẹ chị Thoảng ngã, nằm liệt. Chị bỏ dở mẻ bánh, quăng cái quạt lên cột, chạy ra bến. Anh Lợi thì không kể gì, chỉ nói một câu khi Nhum hỏi: chị ấy về nhà mẹ đẻ rồi, ông không cho đón về.
Ông không cho đón về vì ba ngày sau, ba trăm cái bánh dâng phủ mốc xanh. Người trong trấn nói chị Thoảng bỏ lò giữa mẻ, làm đứt lửa, bánh ăn phải khí độc. Có người còn nói chị ghen với em dâu sắp về nên trù ẻo. Ông Hòa không tin chuyện trù ẻo, nhưng ông tin chuyện bỏ lò. Đời ông, đời cha ông, chưa ai bỏ lò giữa mẻ.
Nhum ngồi nghe, tay vê vê một sợi lạt. Có điều gì đó không khớp. Mẻ bánh năm ngoái, theo lời chú Sáu Kê, đã ra lò đủ ba trăm cái, vàng đều, không cái nào cháy, không cái nào sống. Chị Thoảng chỉ bỏ đi lúc bánh đã nướng xong, đang nằm trên khay chờ xếp hộp. Bánh đã chín rồi thì lửa đứt hay không cũng không sao.
– Thế năm ngoái ai xếp bánh vào hộp? – Cô hỏi chú Sáu Kê.
– Ông xếp. Ông với tôi. – Chú nói. – Người phủ chờ sẵn ngoài cửa, ông bảo xếp nhanh cho kịp đò.
– Bánh còn nóng không chú?
Chú nhíu mày nghĩ.
– Còn ấm. Ấm tay. Thì năm nào chả thế, mợ. À, không. – Chú dừng lại. – Năm nào chị Thoảng cũng ngồi quạt. Ra lò là chị ngồi quạt, quạt tới khi nào bánh nguội hẳn mới cho xếp. Ông vẫn hay cười, bảo con dâu nhà này quạt cho bánh khỏi nóng giận. Có năm khách giục, ông quát, chị vẫn ngồi quạt.
Nhum ngồi im. Ở Chợ Lớn, đứa học việc nào vào lò cô cũng dạy câu đầu tiên: bánh chưa nguội thì chưa đóng hộp. Bánh nướng ra lò còn ngậm hơi nóng trong ruột. Xếp vào hộp gỗ đậy nắp, hơi nước bốc ra không thoát được, đọng lại trên nắp, rơi xuống mặt bánh, và chỉ ba ngày sau là mốc trắng rồi mốc xanh. Một điều nhỏ đến nỗi người trong nghề không ai nhắc, vì ai cũng làm theo thói quen.
Ở đây, cái thói quen ấy có thể chỉ nằm trong tay một người.
Nhưng cô không thể đi nói với ông Hòa rằng con dâu cả của ông không có lỗi, lỗi là ở chính ông. Cô là đứa con dâu mới về bốn tháng, vừa đốt của ông bốn chục cái bánh. Cô cần một thứ mà ông nhìn thấy bằng mắt.
Ba ngày sau mẻ cháy, Nhum nướng mẻ thử thứ hai, hai mươi cái. Lần này cô chờ tờ giấy bản vàng ở nhịp thứ hai mươi mới cho bánh vào, giữa chừng mở cửa lò cho bớt hơi trần, quét lòng đỏ trứng hai lần. Bánh ra lò vàng như mật, vỏ mỏng, lằn hoa sắc nét. Ông Hòa bẻ một cái, nhai chậm, không khen, nhưng không chê.
Rồi Nhum làm một việc mà cả nhà không hiểu. Cô lấy hai cái hộp gỗ thông giống hệt nhau. Hộp thứ nhất, cô xếp năm cái bánh ngay khi vừa ra lò, còn nóng, đậy nắp. Hộp thứ hai, cô bê khay bánh ra hiên, ngồi xuống cái ghế đẩu phủi sạch bụi, cầm cái quạt nan cháy một lỗ mà quạt. Quạt một nén hương. Quạt tới khi áp mu bàn tay lên đáy bánh không còn thấy ấm. Rồi mới xếp năm cái vào hộp, đậy nắp. Cô đặt hai hộp cạnh nhau trên gác bếp, dán lên mỗi hộp một mảnh giấy đỏ để phân biệt.
– Mày làm gì thế? – Ông Hòa hỏi.
– Con thử, thưa cha. Ba ngày nữa cha mở ra xem.
Ông Hòa nhìn cái quạt trong tay cô lâu hơn cô mong muốn. Rồi ông quay vào nhà, không nói gì.
Chiều hôm ấy, Nhum xin bà Hòa cho sang sông mua lá chuối. Bà nhìn cô một lúc, rồi móc trong túi yếm ra hai đồng kẽm, bảo đi đò ông Sáng, đừng đi đò lão Tẹo, lão Tẹo hay chở quá tải.
Xóm bên kia sông nhỏ, mười mấy nóc nhà nằm dưới lũy tre. Nhà mẹ chị Thoảng ở cuối xóm, ba gian tranh, trước sân phơi một nong bánh khảo. Chị Thoảng ngồi trên bậc thềm, đang lấy khuôn gỗ ép bột. Chị chừng hai mươi tám, gầy, tóc búi thấp, hai bàn tay trắng bột tới cổ tay. Thấy Nhum, chị đặt khuôn xuống, không đứng dậy.
– Cô là vợ chú Út. – Chị nói, không hỏi.
Nhum ngồi xuống bậc thềm, cách chị một sải tay. Cô không biết bắt đầu từ đâu, nên cô kể thẳng chuyện ba trăm cái bánh, chuyện mẻ cháy, chuyện cái quạt nan trên cột lò. Chị Thoảng nghe, mắt nhìn nong bánh khảo, tay vẫn xoa xoa khuôn gỗ.
– Mẹ tôi dạy. – Chị nói khi Nhum hỏi về cái quạt. – Mẹ tôi làm bánh khảo bốn mươi năm. Bà bảo bánh nguội mới gói, người nguội mới nói. Gói lúc nóng thì bánh đổ mồ hôi, nói lúc nóng thì người đổ lỗi. Tôi về nhà ấy tám năm, năm nào cũng ngồi quạt. Ông cười thì tôi để ông cười.
– Sao năm ngoái chị không nói với cha là bánh mốc vì không ai quạt?
Chị Thoảng cười, cái cười rất ngắn.
– Nói với ai? Tôi bỏ lò giữa mẻ thật. Mẹ tôi ngã thật. Tôi về tới nơi thì bà nằm bất động, ba tháng sau mới ngồi dậy được. Người ta bảo tôi trù ẻo, tôi còn hơi đâu mà cãi. – Chị cúi xuống, ép một khuôn bánh, gõ ra một cái bánh khảo trắng tinh hình bông cúc. – Mà cô sang đây làm gì? Ông không cho đón thì tôi không về. Tôi không đi đò sang xin.
Nhum không nói thêm. Lúc cô đứng dậy, chị Thoảng gói cho cô sáu cái bánh khảo trong lá chuối, bảo mang về cho bà, bà thích ăn bánh khảo nhân dừa. Chị dặn thêm, giọng nhỏ hẳn đi:
– Cái quạt ấy góc dưới có lỗ cháy. Năm đầu về làm dâu tôi để gần lò quá. Cô quạt thì lấy tay che lỗ lại, không thì gió đi lệch.
Ba ngày ấy dài như ba tháng. Nhum cùng chú Sáu Kê sên nhân, ngâm nước đường, tập nhịp lò. Cô dạy chú cách rắc một nhúm bột lên khay để xem lửa, cách nghe tiếng mỡ xèo trong vỏ bánh. Đổi lại, chú dạy cô cách chụm củi nhãn vào lò đất sao cho lửa đều hai bên vòm, điều mà mười hai năm ở Chợ Lớn cô chưa từng phải biết. Có những thứ cái đầu của cô mang theo được. Có những thứ chỉ hai bàn tay của người ở đây mới biết.
Sáng ngày thứ ba, Nhum mở hai hộp bánh trước mặt cả nhà.
Hộp quạt nguội, năm cái bánh vẫn khô, vỏ hơi se, mùi thơm bơ mỡ. Hộp xếp nóng, mặt trong nắp gỗ lấm tấm giọt nước. Năm cái bánh mặt ướt, hai cái đã lốm đốm những chấm trắng như bụi phấn ở mép.
Ông Hòa cúi xuống nhìn những chấm trắng ấy rất lâu. Anh Lợi đứng sau lưng cha, mặt tái đi. Bà Hòa đặt cơi trầu xuống.
Ông Hòa không nói gì cả. Ông đứng dậy, đi thẳng ra bến sông, ngồi đó tới tận chiều.
— Hết chương 2 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe