Chương 3: Chương bảy
Đêm thứ ba, trời giông đúng như sách.
Sấm rền từ phía biên giới, chớp xé trời làm đồng nước sáng trắng từng chặp. Gió thổi lục bình dạt vào chân sàn. Mưa quất ràn rạt lên mái lá.
Chị Bé Ba ngồi trên bộ ván gõ, áo mưa ni lông khoác sẵn, nón lá dây đỏ đội sẵn, cái xuồng buộc sẵn dưới chân thềm. Chị đợi giọng kể.
Chị đã đọc chương bảy. Chương bảy không có bà Tư Hột. Chương bảy là ông Sáu Lộ, là đồng nước, là bé Út Thắm ngồi bên cây đèn dầu chờ cha. Bà Tư Hột chỉ được nhắc tới đúng một lần, ở câu đầu chương, rằng bà “đóng cửa ngủ sớm vì sợ giông”.
Giọng kể vang lên.
“Bà Tư Hột đóng cửa ngủ sớm vì sợ giông.”
Tay chị đóng cửa. Chân chị bước lại bộ ván. Chị nằm xuống. Mắt chị nhắm lại.
Giọng kể chuyển đi, sang nhà ông Sáu Lộ. Chị nghe nó văng vẳng: ông Sáu Lộ xách lưới xuống xuồng, bé Út Thắm níu áo cha, ông xoa đầu con, nói cha đi chút xíu rồi về.
Chị Bé Ba mở mắt. Chị đứng dậy. Chị mở cửa, bước xuống xuồng, cởi dây, cầm dầm chèo.
Ngoài trang sách, giữa đêm giông, một người đàn bà không ai kể tới chèo xuồng ra đồng nước.
Chị chèo theo hướng giọng kể. Mưa quất vào mặt rát như cát. Nước đồng gợn sóng như ngoài sông cái. Chị lớn lên ở Cao Lãnh, mười tuổi đã biết bơi xuồng đi học, mười hai tuổi biết đọc hướng gió trên mặt nước. Cái tay chèo của chị là tay chèo của một đứa con gái miền Tây, không phải của bà Tư Hột. Chị biết vậy vì bà Tư Hột trong sách đi đâu cũng thuê người chèo.
Giọng kể vọng tới từ phía trước, đứt quãng giữa tiếng sấm:
“Ông Sáu Lộ giăng lưới ở đám tràm phía nam. Gió giật. Chiếc xuồng chòng chành.”
Chị chèo nhanh hơn. Chị nhìn xuống tay mình. Dưới ánh chớp, chị thấy xuyên qua được bàn tay mình, thấy mờ mờ cái cán dầm gỗ bên dưới.
“Một cơn gió lốc từ phía biên giới thổi tới.”
Chị thấy đám tràm. Chị thấy chiếc xuồng nhỏ của ông Sáu Lộ, mũi xuồng chúc xuống, ông đang cố gỡ cái lưới mắc vào gốc tràm.
“Chiếc xuồng lật úp.”
Chị thấy nó lật. Chị thấy ông Sáu Lộ rơi xuống nước, chới với. Cái lưới cũ quấn vào chân ông.
Chị Bé Ba nhảy xuống.
Nước lạnh. Nước đục ngầu. Chị lặn xuống, mò trong bóng tối, tay chạm vào sợi lưới, chạm vào cổ chân ông Sáu Lộ. Chị rút trong túi áo ra cây dao xếp mà chị đã lấy trong bếp nhà bà Tư Hột từ chiều, cắt. Một mắt lưới, hai mắt lưới, ba mắt lưới. Lưới mục, may mà mục. Sợi cuối cùng đứt. Chị túm cổ áo ông, đạp nước ngoi lên.
Chị đẩy ông bám vào mạn xuồng của chị. Ông ho sặc sụa, phun ra cả ngụm nước phù sa. Chị leo lên trước, rồi nắm tay ông kéo lên. Ông nặng. Tay chị mờ tới mức chị không biết mình có đang nắm được thật không. Nhưng ông vẫn lên được, nằm vật ra lòng xuồng, thở hổn hển.
Gió giật. Một cơn gió hất bay cái nón lá trên đầu chị. Cái nón rơi xuống nước, lật ngửa, xoay xoay trên mặt đồng, sợi dây giờ chỉ còn một sắc hồng nhạt nhòa.
Chị không vớt. Chị chèo.
Chị chèo về hướng có ánh đèn dầu. Nhà sàn lá dừa nước. Bé Út Thắm đứng trên sàn, ôm con búp bê bẹ chuối, cầm cây đèn dầu giơ cao, hét gọi cha.
Chị cập xuồng vào chân sàn. Ông Sáu Lộ bò lên. Bé Út Thắm ôm chầm lấy cha, khóc ré lên.
Chị Bé Ba ngồi trong xuồng, nhìn hai cha con. Chị nhìn xuống tay mình. Không còn thấy tay nữa. Chỉ thấy cái cán dầm, như tự nó nằm trên mạn xuồng.
Bé Út Thắm ngẩng lên từ vai cha. Con bé nhìn về phía chiếc xuồng. Nó nhìn rất lâu, như nhìn một cái gì đó nó không chắc là có hay không.
– Cha ơi, – nó nói, – ai chở cha về vậy?
Chị Bé Ba mở mắt trong căng tin xưởng may. Tiếng chuông báo hết giờ nghỉ trưa reo inh ỏi. Hộp cơm trước mặt đã nguội. Bà tổ trưởng vỗ vai chị, bảo dậy đi bà, ngủ gì mà mặt mày tái mét.
Cuốn Nước lên bờ Cồn Lăng nằm úp trên bàn. Chị lật ra, tay run run, tìm chương bảy.
Chương bảy vẫn có đêm giông. Vẫn có ông Sáu Lộ ra đồng. Vẫn có chiếc xuồng lật. Nhưng sau câu “Chiếc xuồng lật úp”, có thêm một đoạn mà chị chắc chắn trước đây không có. Một đoạn ngắn, tác giả viết như không biết rõ chuyện gì đã xảy ra: có ai đó trong đêm giông đã cắt lưới, đã kéo ông Sáu Lộ lên một chiếc xuồng lạ, đã chở ông về. Sáng ra, ông chèo đi tìm ân nhân khắp xóm, không ai nhận. Ông chỉ vớt được giữa đồng một cái nón lá, vành nón có buộc sợi dây.
Chương tám, ông Sáu Lộ cầm cái nón ấy đi khắp Cồn Lăng hỏi. Tới nhà bà cụ góa xóm trên, bà cụ nhìn cái nón một hồi, rồi chỉ tay về phía vựa lúa: “Cái nón dây đỏ của bả đó.”
Ông Sáu Lộ chèo xuồng tới nhà bà Tư Hột. Bà ngồi trên bộ ván gõ, nhìn cái nón ướt sũng trong tay ông, ngơ ngác. Bà không nhớ gì. Bà chỉ nhớ đêm qua bà đóng cửa ngủ sớm vì sợ giông. Nhưng sáng nay bà dậy, thấy áo mưa ướt đẫm vắt trên sào, thấy dưới chân thềm cái xuồng của bà ngập nửa lòng nước mưa, thấy trong bếp mất cây dao xếp.
Ông Sáu Lộ đặt cái nón lên bộ ván. Rồi ông móc trong túi ra mấy tờ tiền nhàu, đặt cạnh. Bà Tư Hột nhìn mấy tờ tiền một lúc lâu. Rồi bà đẩy nó lại.
Chương chín, tác giả viết rằng mùa nước năm ấy, bà Tư Hột không xiết ruộng nhà nào. Người trong xóm bảo bả già rồi, lẩn thẩn, quên mất mình cho ai vay. Riêng bé Út Thắm thì từ đó, mỗi lần thấy cái nón lá dây đỏ từ xa, không chạy vào nhà nữa.
Chị Bé Ba gấp sách lại, đứng dậy, đi về chuyền may. Chiều hôm đó chị may lệch hai đường chỉ, bị bà tổ trưởng la. Tối về phòng trọ, chị lấy điện thoại ra, bấm một số đã nhiều năm không gọi, số của một ông già ở Cao Lãnh. Chuông đổ năm hồi. Chị không cúp.
— Hết —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe