Chương 1: Bốn giờ chiều
Con bê vàng về chuồng một mình lúc bốn giờ rưỡi, sợi thừng còn kéo lê sau lưng, đầu thừng ướt nhẹp.
Huê đứng ở sân, tay còn cầm cái rổ rau lang, nhìn con bê rồi nhìn lên quả đồi sau nhà. Uẩn đang ngồi đánh vảy cá ngoài giếng, nghe em gái gọi tên thằng Đẹt ba lần, mỗi lần một to hơn, tới lần thứ ba thì giọng vỡ ra.
– Đẹt ơi! Mi đi mô rồi!
Không ai đáp. Quả đồi sau nhà im như tờ, chỉ có tiếng ve và gió thổi qua những bụi sim, bụi mua cao ngang ngực người lớn. Mùa này sim đã chín muộn, tím sẫm, rụng lả tả dưới gốc. Sau cơn bão hôm trước, cả quả đồi còn ướt, đất đỏ dính bết vào dép.
Uẩn về quê ăn giỗ bố được hai hôm. Anh làm kỹ sư cầu đường ở Vinh, mười năm nay chỉ về ngày Tết và ngày giỗ. Sáng nay thằng Đẹt, con trai Huê, còn bám theo anh đòi xem cái máy đo khoảng cách bằng tia laser anh mang theo. Nó chĩa cái chấm đỏ lên tường, lên lưng con mèo, cười như nắc nẻ. Rồi đến trưa nó xin mạ đi chăn bê với thằng con nhà bên. Thằng bé nhà bên về từ ba giờ, bảo con bê của Đẹt sổng thừng chạy lên dốc, Đẹt chạy theo.
Tới năm giờ, Cậy, chồng Huê, đi làm ở xưởng gỗ về, cùng Uẩn lên đồi.
Hai người lần theo dấu chân bê in trên đất đỏ còn ướt. Dấu móng chẻ đôi đi thẳng lên đỉnh, rồi rẽ sang dốc phía đông, chỗ đồi thoải dần xuống dải rừng keo. Xen giữa những dấu móng, thỉnh thoảng có một dấu dép nhựa nhỏ xíu, mũi dép bấm sâu vì đứa bé đang chạy. Cậy cúi xuống, chạm tay vào một dấu dép, không nói gì.
Đi thêm một quãng, tới chỗ đất trũng có vũng nước đọng lại sau bão, dấu chân bê vẫn đi tiếp xuống dốc. Còn dấu dép thì không.
Uẩn soi đèn quanh vũng nước, ra cả những bụi mua xung quanh. Ở mép một bụi mua, anh nhặt được một chiếc dép tổ ong màu xanh, cỡ chân trẻ con, quai đã đứt. Chiếc dép nằm ngửa, sạch sẽ, không dính chút bùn nào, như ai vừa cởi ra đặt xuống chứ không phải đứa trẻ chạy tuột mất.
– Dép thằng Đẹt. – Cậy nói, giọng khô khốc. – Tuần trước tau mới mua.
Họ gọi, gọi mãi. Dưới chân dốc phía đông, rừng keo đứng im trong ánh chiều tắt dần.
Tới sáu giờ, cả xóm đã kéo lên. Người ta đi thành hàng ngang, cứ cách mười bước một người, vạch từng bụi sim mà gọi. Trời tắt nắng nhanh. Đồi sim Hương Khê lúc chạng vạng đỏ một màu bầm, rồi tím, rồi đen.
Bảy giờ, bà Diệu nhà đầu xóm, người già nhất xóm, chống gậy đứng ở chân đồi, nói một câu làm cả đám đàn bà im bặt:
– Thằng nhỏ bị giấu rồi. Đi tìm kiểu ni thì không thấy mô. Về lấy mâm, lấy nồi ra mà gõ.
Uẩn đứng sau lưng bà, đèn pin trong tay, mồ hôi lạnh túa ra dưới lớp áo. Anh nghe chữ "giấu" mà gáy rần lên.
Ở xóm này, ai cũng biết chuyện ma giấu. Thỉnh thoảng có đứa trẻ, có khi cả người lớn, đi vào đồi rồi mất tăm. Người ta gõ mâm đồng, gõ nồi, gõ thau, đốt đuốc đi gọi suốt đêm. Thường thì sáng ra tìm thấy, ngồi im trong một bụi rậm, mắt mở trao tráo, miệng ngậm đầy lá hoặc đất. Hỏi gì cũng không nhớ. Người già bảo ma giấu người vào chỗ mà người sống đi qua cũng không thấy được, phải có tiếng kim khí khua lên thì nó mới sợ mà thả ra.
Uẩn biết chuyện ấy rõ hơn ai hết. Năm 1995, anh bảy tuổi, anh đã bị giấu trên chính quả đồi này.
Uẩn chạy về nhà lấy thêm đèn. Trong bếp, Huê ngồi bệt dưới đất, ôm chiếc dép xanh Cậy mang về, hai mắt đỏ quạch. Mấy bà hàng xóm ngồi quanh, người xoa lưng, người cầm quạt. Một bà đang dặn Huê bằng cái giọng thì thào như sợ ai nghe được:
– Đêm ni đừng ai gọi tên thật của thằng nhỏ sau giờ Tý. Gọi tên tục thôi. Gọi tên thật thì cái nớ biết tên, nó giữ luôn.
– Tên tục của hắn là Đẹt rồi còn chi nữa. – Huê nấc.
Mạ Uẩn, giờ đã gần bảy mươi, lục dưới gầm chạn ra cái mâm đồng to nhất nhà. Mâm đã xỉn đen, quanh vành có một chỗ móp sâu như bị ai lấy búa đập. Uẩn nhìn chỗ móp ấy, và trí nhớ anh trượt về một buổi sáng ba mươi mốt năm trước.
Sáng hôm ấy, khi người ta tìm thấy anh, câu đầu tiên mạ anh nói, vừa nói vừa khóc, là: "Cái mâm ni móp từ năm o Tịnh mất. Bà ngoại mi gõ đến móp. Mạ tưởng lại phải gõ cho mi."
O Tịnh là em gái út của mạ. O mất năm mười bảy tuổi, năm 1980, trên quả đồi này.
Mạ dúi cái mâm vào tay Uẩn, kèm một cái dùi gỗ.
– Mi gõ đi. Mi gõ to vào. Năm đó o mi đưa mi về, chừ o cũng đưa thằng Đẹt về.
– Mạ nói chi rứa? – Uẩn hỏi.
Mạ không trả lời ngay. Bà ngồi xuống bậc cửa bếp, kéo vạt áo lau tay, rồi kể, giọng đều đều như kể chuyện mất mùa:
– Năm o mi mất, mạ mười chín. Cả làng gõ mâm ba đêm. Bà ngoại mi gõ cái mâm ni, gõ tới mức sáng thứ ba người ta giằng cái dùi ra khỏi tay mới thôi, thì cái vành nó móp vào như rứa. Người ta vớt được o mi dưới hố bom. Từ đó, đứa mô trong xóm bị giấu, người ta tìm thấy đều ở sườn tây. Bốn mươi năm, không đứa mô bị giấu mà chết.
Uẩn không hiểu hết mạ nói vậy là có ý gì. Anh cầm cái mâm, gõ một tiếng. Tiếng đồng ngân dài, rung qua cả xóm, dội lên đồi rồi vọng ngược trở xuống, như có ai trên đỉnh đồi đang gõ đáp lại.
— Hết chương 1 —
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe