Chương 3: Cái vạch thứ hai trăm mười bốn
Cúc Hoa không trả lời ngay. Cô cần một tuần để nghĩ, và cô dùng cả tuần ấy.
Tối thứ Hai, cô gọi điện về Kim Sơn cho mẹ đẻ, hỏi mẹ có bao giờ thấy nấu cỗ là khổ không. Mẹ cô cười, bảo có chứ, khổ chết đi được, nhưng năm nào bà ngoại bảo thôi để mẹ đặt cỗ cho đỡ vất vả thì mẹ lại nhất định không chịu. Cúc Hoa hỏi vì sao. Mẹ cô nghĩ một lúc rồi bảo: vì bà ngoại hỏi.
Tối thứ Tư, cô ngồi cùng Dương trên sân thượng, lấy giấy bút tính. Phần tiền bán nhà mẹ chia, cộng với tiền hai vợ chồng tiết kiệm, đủ mua một căn hộ hai phòng ngủ ở Long Biên, tầng thấp, có một góc phòng khách đủ kê cái bàn thờ nhỏ.
– Em định đưa bàn thờ về à? – Dương hỏi.
– Bàn thờ bố, ông bà. Các cụ xa hơn thì gửi chùa như mẹ nói. Em hỏi sư cô rồi, sư cô bảo được.
– Thế giỗ chạp?
– Em làm. Nhưng em làm vì em thích làm. Anh nhớ nhé. Hôm nào em không thích, em đặt cỗ ngoài, hoặc em nấu một nồi xôi với đĩa thịt, thế thôi. Anh không được bảo em là phải. Và mẹ đến giỗ thì mẹ là khách. Mẹ không được vào bếp.
Dương nhìn vợ một hồi.
– Ba năm nay anh cứ tưởng em là người giữ nếp nhất nhà.
– Em vẫn giữ. – Cô nói. – Chỉ là em muốn biết cái nếp ấy có cho phép em bỏ nó không. Nếu không cho thì nó là cái cùm, anh ạ, không phải cái nếp.
Thứ Bảy, Cúc Hoa nói với mẹ chồng. Bà Trinh nghe xong, im lặng lâu đến mức cô tưởng bà không đồng ý. Rồi bà hỏi:
– Thế còn cái mâm đồng?
– Con giữ. Mẹ cho con nhé.
– Nặng lắm đấy. Căn hộ chung cư, con bưng đi đâu.
– Con bưng từ bếp ra phòng khách thôi mẹ. Không phải lên ba tầng.
Lần này bà Trinh cười thật.
Tin bán nhà về đến họ nhanh hơn Cúc Hoa nghĩ. Chiều Chủ nhật sau đó, bác Khải, anh cả của bố chồng cô, đi xe ôm từ Hàng Đào sang, không báo trước. Bác bảy mươi tư tuổi, tóc bạc trắng, chống cây ba toong gỗ mun. Bác không lên sân thượng, không uống trà, đứng ngay giữa phòng khách tầng một mà nói.
– Tôi nghe thằng Dương nói chị bán nhà. Chị bán thì tôi không cản, nhà của chị. Nhưng phòng thờ nhà này là phòng thờ chi trưởng. Chị gửi các cụ lên chùa như gửi đồ cũ, chị không sợ người ta cười cho à?
Bà Trinh đứng ở chân cầu thang, mặt trắng bệch. Ba mươi lăm năm, Cúc Hoa đoán, bà chưa từng cãi bác Khải câu nào.
Cúc Hoa đặt khay trà xuống bàn, đứng thẳng lên.
– Thưa bác, bàn thờ bố cháu và ông bà nội, vợ chồng cháu rước về nhà mới. Các cụ xa hơn gửi chùa, có sư cô hương khói ngày rằm mùng một, giỗ chạp nhà cháu vẫn lên chùa làm lễ. Việc này là cháu xin mẹ, không phải mẹ bắt cháu. Nếu bác thấy chưa phải, bác cứ trách cháu.
– Cô là dâu, cô biết gì mà…
– Cháu là dâu trưởng, bác ạ. Mẹ cháu làm dâu trưởng ba mươi lăm năm rồi, mẹ cháu được nghỉ. Từ nay ai muốn trách việc thờ cúng chi này thì trách cháu.
Bác Khải nhìn cô rất lâu. Rồi bác chống gậy quay ra cửa, đến ngạch cửa thì dừng lại.
– Cô vấn khăn đẹp đấy. Bà cụ nhà này ngày xưa vấn cũng không đẹp bằng.
Bác đi rồi, bà Trinh vẫn đứng ở chân cầu thang. Bà không nói gì, chỉ đưa tay lên vuốt tóc mấy lần, như người vừa xuống máy bay sau một chặng dài.
Căn nhà ngõ Văn Chương bán xong vào tháng Mười. Ngày dọn nhà, bà Trinh đứng giữa phòng thờ trống, nhìn những vệt ố trên tường nơi những khung ảnh đã treo hơn nửa thế kỷ. Bà không khóc. Bà chụp một tấm ảnh căn phòng bằng điện thoại, rồi đi xuống cầu thang, không quay lại.
Tháng Mười Một bà bay vào Đà Nẵng. Tháng Mười Hai bà gửi về một tấm ảnh mặc đồ lặn màu đen, tóc ướt dính vào trán, đứng trên mũi một chiếc ca nô giữa vịnh, phía sau là núi Sơn Trà xanh thẫm. Dưới ảnh bà viết: mẹ lặn được tám mét rồi, dưới đó có san hô màu tím, con chưa thấy bao giờ đâu.
Giỗ đầu tiên ở căn hộ Long Biên là giỗ ông Toàn, vào tháng Ba. Bà Trinh bay ra từ hôm trước. Sáng hôm giỗ bà dậy sớm, theo thói quen, đi xuống bếp thì thấy Cúc Hoa đã đứng đấy, xôi đã đồ, gà đã luộc, nồi canh măng đang sôi lăn tăn.
– Mẹ đặt cho con cái lẩu hải sản, chiều người ta mang đến, cho cả nhà ăn sau khi cúng. – Bà nói. – Không phải cỗ. Lẩu thôi. Mẹ thích lẩu.
– Vâng. Bố cũng thích lẩu mà mẹ.
– Ừ. Ông ấy thích lẩu, mà ba mươi lăm năm có dám bảo cúng lẩu đâu.
Bà Trinh ngồi xuống chiếc ghế cao bên bàn bếp, nhìn con dâu thái lá chanh. Bà không động tay vào việc gì. Đó là lần đầu tiên trong đời bà ngồi yên trong bếp vào một ngày giỗ.
Cúng xong, khách về, lẩu ăn hết, Cúc Hoa bưng mâm đồng ra bồn rửa. Bà Trinh đi theo. Bà nhìn con dâu cọ mặt trên, rồi lật mặt dưới lên. Những vạch khắc cũ vẫn ở đó, hai trăm mười ba vạch, sáng lên dưới vòi nước.
Bà cầm lấy cái mâm, xoay một vòng, tìm.
– Con không khắc thêm à?
– Không ạ.
– Không có gì muốn đếm à?
Cúc Hoa tắt vòi nước, lau tay vào tạp dề.
– Có mẹ ạ. Con đếm xem mẹ được bao nhiêu cái giỗ ngồi yên. Nhưng con không khắc lên mâm. Con ghi trong lịch điện thoại. Hôm nay là cái thứ nhất.
Bà Trinh đặt mâm xuống, quay mặt ra cửa sổ, nơi nắng chiều tháng Ba đang chiếu xiên qua mấy chậu dưa cải muối trên bậu. Lần này bà không chê mùi dưa.
– Hôm nay mẹ lấy một hũ dưa mang vào Đà Nẵng nhé. Hũ nhỏ thôi.
– Mẹ ăn được à?
– Không. – Bà nói. – Nhưng mẹ muốn có một cái gì để mở nắp ra mà nhớ.
Tối hôm ấy, lúc tiễn mẹ chồng ra sân bay, Cúc Hoa thấy trong túi xách của bà, nằm cạnh cuốn sách tiếng Tây Ban Nha và bộ đồ lặn cuộn tròn, có một hũ thủy tinh nhỏ, nắp vặn chặt, dưa cải vàng ươm bên trong.
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe