Chương 1: Bức tường hai lớp
Mũi khoan vừa xuyên qua lớp gạch thứ hai thì hụt hẫng, lao vào khoảng không. Anh thợ cả Bình rút mũi khoan ra, ghé mắt nhìn vào cái lỗ to bằng nắm tay, rồi quay lại gọi tôi bằng một giọng tôi chưa từng nghe anh dùng.
– Anh Khang ơi. Anh lên đây một tí.
Tôi là kỹ sư kết cấu, giám đốc kỹ thuật của công ty đang nhận cải tạo rạp chiếu bóng Sao Mai thành nhà văn hoá thanh niên. Rạp Sao Mai nằm trên con phố gần hồ Vị Xuyên, xây từ những năm sáu mươi, đóng cửa từ năm 2008, bỏ hoang mười tám năm. Công ty tôi bỏ thầu thấp hơn hai đơn vị khác gần một tỷ. Đồng nghiệp hỏi sao lỗ vốn vẫn làm. Tôi nói rạp này đẹp, đáng giữ.
Tôi không nói rằng bố tôi từng làm thợ điện ở đây.
Tôi leo lên cầu thang sắt dẫn vào buồng máy chiếu, cái phòng nhỏ có bốn ô cửa sổ vuông nhìn xuống khán phòng. Anh Bình đứng ở góc trong cùng, chỗ bức tường phía sau. Anh đưa tôi cái đèn pin.
Bức tường ấy là tường hai lớp, giữa có một khoảng hở chừng bốn mươi phân. Trên bản vẽ cải tạo năm 1989 tôi tìm được ở kho lưu trữ, người ta xây thêm lớp tường trong để cách âm cho buồng máy khi thay máy chiếu mới. Khoảng hở ấy để đi dây điện.
Tôi rọi đèn vào. Bụi bay lơ lửng trong luồng sáng. Dưới đáy hốc tường, trên nền gạch, có một cái kìm điện. Hai cán kìm quấn mấy vòng vải. Vải ca rô xanh trắng, đã bạc gần hết màu, nhưng tôi vẫn nhận ra.
Phía sau cái kìm, sâu hơn trong bóng tối, có một hình dáng nằm co lại sát chân tường. Tôi không rọi đèn vào đó lâu. Tôi biết đó là gì.
– Mọi người dừng lại hết, – tôi nói. – Không ai đụng vào gì nữa. Anh Bình, gọi công an phường giúp em.
Tôi đi xuống cầu thang, ra ngồi trên bậc thềm trước cửa rạp, nhìn ra mặt hồ. Đó là lần đầu tiên trong ba mươi bảy năm, tôi biết chắc bố tôi đang ở đâu.
Năm 1989 tôi sáu tuổi. Bố tôi là Vũ Văn Toản, thợ điện của rạp Sao Mai, người ở phố ai cũng gọi là ông Toản điện. Bố có cái kìm không bao giờ rời người, mẹ quấn cán cho bố bằng mấy dải vải cắt từ cái áo sơ mi ca rô xanh trắng của mẹ, cái áo mẹ mặc hôm hai người đi đăng ký kết hôn. Mẹ bảo kìm quấn vải thì cầm không trơn tay, lại không sợ điện giật. Bố cười, bảo kìm có cán nhựa rồi, nhưng vẫn để mẹ quấn.
Đêm mười bốn tháng Mười năm ấy, rạp đang sửa buồng máy, thợ hồ thợ điện làm suốt mấy tuần. Mấy hôm liền, đèn trong rạp cứ chập chờn, công tơ quay nhanh bất thường. Bố nói với mẹ: có đứa nào câu trộm điện của rạp, để anh đi xem. Bố cầm cái kìm, cái đèn pin, đạp xe đi lúc chín giờ tối.
Tôi chỉ nhớ được bố qua vài mảnh. Một trong số đó là buồng máy chiếu này. Có những tối bố bế tôi lên cái cầu thang sắt, đặt tôi ngồi trên một cái hòm gỗ cạnh ô cửa sổ vuông. Máy chiếu kêu rè rè như tiếng mèo ngáy, một luồng sáng trắng có bụi bay lấp lánh phóng qua đầu khán giả, rơi xuống tấm màn thành những con người to lớn đang cưỡi ngựa. Bố ngồi cạnh tôi, tay mân mê cái kìm, mắt không nhìn phim mà nhìn mấy cái đồng hồ điện trên tường. Bố bảo phim thì ai chả xem được, còn điện mà tắt giữa chừng thì cả rạp ném dép lên đây.
Đêm ấy bố đi, tôi đã ngủ.
Bố không về.
Sáng hôm sau, người của rạp tìm khắp nơi. Buồng máy khoá. Công trình vẫn y như hôm trước, chỉ có cái lỗ chừa để đi dây ở bức tường mới đã được trát kín, việc mà đội thợ hồ đã định làm từ lâu. Công an đi hỏi khắp phố. Ba ngày sau, có người kể thấy một người giống bố tôi ra bến xe đi Hải Phòng. Năm đó, chuyện người ta bỏ nhà đi vượt biên bằng đường biển từ Hải Phòng không phải hiếm.
Thế là cả phố tin bố tôi đã đi. Mẹ tôi không tin. Mẹ đi Hải Phòng ba lần, hỏi từng bến cá. Rồi mẹ thôi đi, ở nhà bán nước chè, nuôi tôi. Mẹ không lấy ai nữa.
Người giúp mẹ con tôi nhiều nhất trong những năm ấy là chú Phùng Lập.
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám