Chương 2: Cái cọc tre giữa sông
Hai mươi ngày tiếp theo, ngày nào bà Út cũng bay qua sông. Có ngày bay sáu lần, mệt tới mức đáp xuống bãi bồi là ngồi bệt, thở dốc, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Luyện Khí tầng hai, linh khí trong người bà mỏng như nước mưa đọng trong lu, bay được một chuyến là cạn một nửa.
Lần nào bà cũng sà xuống ở cái cọc tre.
Hưng thử đủ cách. Anh cho bà bay cao hơn, hai mươi lăm thước, để có sà thì cũng còn trên mười lăm. Bà vẫn sà xuống hai thước. Anh bay kèm bên cạnh, la vào tai bà. Bà vẫn sà. Anh thử cho bà bay đường khác, lệch lên thượng nguồn năm chục thước. Tới ngang cái cọc tre, thanh kiếm tự quẹo về phía nó, như có nam châm.
– Con kiếm này nó bị gì vậy cô? – Anh hỏi, nửa đùa nửa thật.
– Nó không bị gì. – Bà Út nói. – Tao bị.
Ngày thứ hai mươi hai, Hưng chạy xe máy về nhà bà Út, mang theo một ký nhãn. Nhà bà là căn nhà lá lợp tôn ở cuối xóm bến đò cũ, sau nhà là cầu ván ra sông. Dưới gốc bần, một chiếc đò máy cũ nằm úp trên hai cái mễ gỗ, thân đò bạc phếch, máy đã tháo.
Trong nhà, trên cái giường tre kê cạnh cửa sổ nhìn ra sông, có một ông già nằm. Gầy, da vàng, một bên mặt xệ xuống, tay trái co quắp trên ngực. Ông mở mắt nhìn Hưng, nhìn lâu, rồi miệng ông méo đi một chút, như đang cố cười.
– Ông Tư nhà tao. – Bà Út nói. – Tai biến bốn năm rồi. Nói không được nữa, mà nghe được.
Hưng đứng sững ở cửa, ký nhãn trên tay chút nữa thì rơi.
Ông Tư Đò. Ông Huỳnh Văn Tư. Ba chục năm chạy đò máy ngang sông Hàm Luông, từ bến xóm này qua bến chợ bên kia, hai ngàn đồng một lượt, học trò thì một ngàn. Hưng đi học cấp hai, cấp ba bên chợ, chín năm ngồi đò ông Tư mỗi sáng mỗi chiều. Có những sáng Hưng không có nổi một ngàn đồng, ông Tư phẩy tay: lên đi, mai trả. Hưng chưa bao giờ trả. Ông Tư chưa bao giờ đòi.
Và tới giữa sông, ngay chỗ có cái cọc tre cắm làm mốc luồng, ông Tư bao giờ cũng bóp kèn hai tiếng. Bin, bin. Báo cho bến bên kia biết là đò sắp tới, ai cần đi chuyến về thì ra đứng chờ. Hai tiếng kèn khàn đặc vang ngang mặt sông, học trò trên đò đứa nào cũng nhái theo.
– Bảy năm trước, có cây cầu. – Bà Út nói, ngồi xuống mép giường, lấy khăn lau miệng cho chồng. – Đò hết khách. Ổng ngồi nhà nhìn sông ba năm, rồi ổng ngã. Từ đó ổng nằm đây, ngó ra cửa sổ, ngó qua bên kia sông. Bốn năm.
Bà kéo cái mền lên ngực ông Tư.
– Ổng muốn qua sông một lần. Không phải qua cầu. Qua sông. Đi đúng cái đường ổng chạy ba chục năm. Xe cứu thương chở qua cầu thì ổng nhắm mắt lại, không chịu ngó.
– Nên cô học lái kiếm. – Hưng nói.
– Có bằng mới được chở người. – Bà nói. – Không bằng mà chở, bắt được là tịch thu kiếm, tao không sợ, mà tao sợ người ta bắt giữa sông, ổng đang ngồi sau lưng tao.
Hưng nhìn ra cửa sổ. Ngoài kia, sông Hàm Luông đục ngầu, rộng mênh mông, và ở giữa dòng, cái cọc tre cũ nhô lên, nghiêng nghiêng.
– Cô Út. – Anh nói, giọng khàn đi. – Con đi đò ông Tư chín năm. Từ lớp sáu tới lớp mười hai.
– Tao biết. – Bà Út nói, không ngẩng lên. – Thằng Hưng con bà Chín bán bánh bò đầu chợ. Hồi đó mày ốm nhom, ngồi đầu đò ôm cặp, nước văng ướt hết tập. Tao nhận ra mày từ bữa đầu tới trung tâm.
– Sao cô không nói?
– Nói chi. Nói ra mày bớt tiền học cho tao, tao mắc nợ mày. – Bà quay qua, nhìn anh, cái nhìn của người đàn bà ba chục năm ngồi đầu đò đếm tiền lẻ. – Tao không thích mắc nợ ai.
Trên giường, ông Tư khẽ cử động bàn tay phải. Ngón trỏ ông gõ nhẹ lên mặt chiếu hai cái. Hưng nhìn hai cái gõ đó rất lâu. Năm Hưng mười ba tuổi, mùa nước lớn, có một chiều giông, đò ra tới giữa sông thì sóng đánh chao nghiêng. Cả đò la hét. Ông Tư bình thản bảo thằng nhỏ ngồi đầu đò là nó: bóp kèn đi con, bóp hai cái cho bên kia biết mình tới. Nó bóp. Bin, bin. Tay run tới mức tiếng kèn đứt quãng. Bên kia sông, người ta nghe, chạy ra cầu ván đứng chờ, giăng sẵn dây. Đò cập bến an toàn. Từ đó nó không còn sợ sông.
Hai cái gõ trên mặt chiếu. Ông Tư nhớ.
– Còn chuyện cô sà xuống ở cái cọc...
Bà Út im một lúc lâu.
– Ba chục năm tao ngồi đầu đò với ổng. – Bà nói. – Tới cái cọc là ổng bóp kèn, là tao cúi xuống, thò tay xuống nước một cái, vốc một vốc nước rửa mặt cho tỉnh. Ba chục năm, ngày bốn chục chuyến. Tao không có nghĩ. Tới cái cọc là người tao tự cúi. Mà người tao cúi thì cái kiếm nó cúi theo.
Ngày thứ hai mươi lăm, bà Út thi lần thứ nhất. Hai bài đầu qua dễ dàng, sát hạch viên của Sở, một cô gái trẻ tên Mai Hồng Ngát, gật gù ghi điểm tối đa. Bài vượt sông, tới cái cọc tre, thanh kiếm chúi xuống. Hai thước trên mặt nước.
Cô Ngát hạ ống nhòm xuống, lắc đầu, ghi vào biên bản một chữ "rớt".
– Cô được thi lại một lần nữa. – Cô nói với bà Út. – Lịch thi gần nhất là thứ sáu tuần sau.
Bà Út đếm trên đầu ngón tay. Thứ sáu tuần sau là ngày thứ ba mươi. Ngày cuối cùng bà còn là người sáu mươi bốn tuổi.
— Hết chương 2 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe