Chương 1: Ba chỗ ông nội có thể đang ở
Ông nội tôi chết hôm thứ Tư. Tới thứ Sáu thì tôi đã biết được ba chỗ ông có thể đang ở.
Bà nội nói ông về quê với ông bà cố, ở Bến Tre, chỗ có cây dừa sáp sau nhà. Ba tôi nói ông lên trời. Cô Út nói ông ở trong lòng mọi người. Còn thằng Khoa ngồi cạnh tôi trong lớp thì nói ông tôi thành ma rồi, đêm nào cũng về đứng ở chân cầu thang, tôi mà dậy đi tè là thấy.
Tôi tám tuổi, học lớp ba. Tôi biết bốn chỗ đó không thể đúng hết. Một người không thể vừa ở Bến Tre vừa ở trên trời vừa ở trong lòng mọi người vừa đứng ở chân cầu thang. Cô giáo dạy rồi, một vật chỉ ở một chỗ tại một thời điểm.
Tôi không hỏi ai nữa. Tôi lên sân thượng, ngồi cạnh chuồng bồ câu của ông, nghĩ.
Nhà tôi là nhà ống bốn tầng trong một con hẻm ở khu Bàn Cờ, ngang ba mét rưỡi, dài mười tám mét. Tầng trệt ba mẹ tôi bán tạp hóa. Tầng một ba mẹ ngủ. Tầng hai tôi ngủ với bà nội. Tầng ba ông nội ngủ, một mình, vì ông ngáy to quá, bà nội không chịu nổi. Trên cùng là sân thượng, và sân thượng là của ông.
Ông nuôi hai mươi ba con bồ câu. Chuồng ông tự đóng bằng gỗ thông, sơn màu xanh dương, có mười hai ngăn, mỗi ngăn một cặp, dư ra một con. Con dư là con Bông Gòn, màu trắng tinh, đuôi xòe như cái quạt. Nó chưa có cặp. Ông nói nó kén.
Sáng nào ông cũng lên sân thượng lúc năm giờ, mở cửa chuồng, thả chim bay. Chiều năm giờ, ông lên lại, thổi cái còi tre. Cái còi nhỏ xíu, bằng ngón tay út, ông tự làm từ một khúc trúc. Ông thổi một tiếng dài, hai tiếng ngắn. Dù bầy chim đang bay ở tận đâu, bên chợ Bàn Cờ hay qua tới Hồ Con Rùa, nghe tiếng còi là quay về, sà xuống mái tôn, rồi đi lạch bạch vào chuồng từng con một.
Tôi đã thử thổi cái còi đó hàng trăm lần. Nó không kêu. Tôi thổi mạnh thì nó xì ra như bánh xe bị lủng. Tôi thổi nhẹ thì nó không ra tiếng gì hết. Ông cười, lấy lại cái còi, thổi một tiếng dài, hai tiếng ngắn, rồi nói:
– Khi nào con thổi kêu thì con làm chủ chuồng.
– Khi nào?
– Khi nào tới thì tới.
Ông dạy tôi nhiều thứ về bồ câu. Bồ câu một vợ một chồng, cặp rồi là ở với nhau tới già. Bồ câu đẻ mỗi lần hai trứng, con trống con mái thay nhau ấp. Và quan trọng nhất, bồ câu bay đi đâu cũng biết đường về nhà. Ông nói hồi xưa người ta mang bồ câu đi xa cả trăm cây số rồi thả, nó vẫn bay về được.
– Sao nó biết đường?
– Nó nhớ. – Ông gõ gõ ngón tay lên đầu tôi. – Cái gì mình thương thì mình nhớ đường về.
Ngồi bên chuồng chim hôm thứ Sáu, tôi nghĩ ra rồi. Ông nội thương cái nhà này, thương bầy chim, thương tôi. Ông sẽ nhớ đường về. Có thể ông đang bay vòng vòng đâu đó, như bầy chim mỗi sáng. Chiều năm giờ, ông sẽ về.
Chiều hôm đó, tôi ngồi trên sân thượng từ bốn giờ rưỡi. Bầy chim về lúc năm giờ mười, không cần còi, tự về, vì quen giờ. Tôi đếm. Hai mươi ba con. Tôi đóng cửa chuồng như ông dạy. Rồi tôi ngồi chờ tiếp.
Tới bảy giờ, mẹ lên kêu tôi xuống ăn cơm. Mẹ thấy tôi ngồi đó, hỏi tôi làm gì. Tôi nói con chờ ông. Mẹ đứng im một lúc lâu. Rồi mẹ ngồi xuống cạnh tôi, ôm tôi, không nói gì. Mẹ thơm mùi dầu gió, vì mấy hôm nay mẹ đau đầu.
Đám tang ông tổ chức ở nhà ba ngày. Tôi được đội khăn trắng, có một cái chấm đỏ, vì tôi là cháu nội. Thằng Khoa nói khăn có chấm đỏ nhìn giống cái băng cứu thương, tôi đấm nó một cái, bị cô chủ nhiệm phạt đứng góc lớp. Lần đầu tiên tôi bị phạt đứng mà không thấy xấu hổ.
Mỗi bữa cơm, bà nội xới thêm một chén, đặt ở chỗ ông hay ngồi, gắp thức ăn vào, rồi để đó. Tôi hỏi bà ông có ăn không. Bà nói ông ăn hơi. Tôi nhìn chén cơm suốt bữa. Hơi cơm bay lên, rồi hết. Cơm vẫn còn nguyên. Tôi không biết ông có ăn hơi thật không, nhưng tôi không hỏi lại, vì bà đang khóc.
Tôi cũng kiểm tra luôn chỗ thứ tư, chỗ của thằng Khoa. Đêm thứ hai sau đám tang, tôi đặt đồng hồ báo thức trong cái điện thoại cũ của mẹ lúc hai giờ sáng, giấu dưới gối. Chuông rung, tôi bò dậy, cầm cây đèn pin, rón rén đi xuống chân cầu thang, ngồi đó chờ.
Cầu thang tối om. Cái đồng hồ treo tường dưới tiệm tạp hóa kêu tích tắc. Con mèo nhà hàng xóm kêu một tiếng ngoài hẻm. Tôi không sợ. Ông nội mà thành ma thì cũng là ma của ông nội, ông sẽ không hù tôi. Tôi chỉ sợ ông về mà tôi ngủ quên, không thấy.
Mẹ tìm thấy tôi lúc bốn giờ rưỡi, ngủ gục ở bậc thứ hai, cây đèn pin vẫn còn sáng, chiếu thẳng vô cái thùng nước mắm. Mẹ bế tôi lên giường. Sáng ra tôi nói với thằng Khoa là tôi canh cả đêm, không có ma nào hết. Nó nói tại tôi ngủ quên nên không thấy. Tôi không cãi được, vì tôi có ngủ quên thật.
Ngày thứ ba sau đám tang, chiều năm giờ mười, bầy chim về. Tôi đếm.
Hai mươi hai con.
Tôi đếm lại. Hai mươi hai. Tôi chạy vòng quanh chuồng, nhìn từng ngăn. Ngăn nào cũng đủ cặp. Chỉ thiếu con Bông Gòn, con chim trắng tinh, đuôi xòe như cái quạt, con không có cặp.
Tôi đứng giữa sân thượng, nhìn lên trời. Trời Sài Gòn chiều đó màu cam, có mấy vệt mây như ai lấy ngón tay quẹt qua. Không có con chim nào hết.
Tôi biết con Bông Gòn đi đâu rồi. Nó đi tìm ông.
— Hết chương 1 —
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe