Chương 1: Bài văn thứ nhất
Đề bài: Em hãy tả một người thân trong gia đình em.
Bài làm của em, Đoàn Ngọc Hân, lớp Năm A.
Người thân mà em muốn tả là bố em. Bố em năm nay bốn mươi hai tuổi. Bố em cao, hơi mập, bụng bố tròn như cái nồi cơm điện nhà em. Bố em đeo kính cận. Bố em có một cái tạp dề kẻ ca rô xanh trắng, có một lỗ thủng nhỏ ở góc vì bố để gần bếp ga.
Bố em làm nội trợ. Sáng bố dậy lúc năm giờ, nấu xôi hoặc nấu mì cho em với em Cốm ăn, rồi chở hai chị em đi học. Bố đi chợ Biên Hòa, mua thịt, mua cá, mua rau. Bố trả giá rất giỏi, cô bán rau quen bố, gọi bố là "anh Nam tạp dề". Trưa bố nấu cơm, chiều bố đón em, tối bố nấu cơm, rửa bát, rồi kèm em học Toán. Bố em giỏi Toán nhất nhà.
Mẹ em làm trưởng phòng ở khu công nghiệp. Mẹ đi làm từ bảy giờ sáng tới bảy giờ tối. Mẹ em kiếm nhiều tiền hơn bố em.
Buổi tối, lúc em ngồi làm bài tập, bố em ngồi ở đầu kia bàn ăn, đeo kính, đọc sách dạy nấu ăn trên điện thoại, có khi chép công thức ra một mẩu giấy dán lên tủ lạnh. Tủ lạnh nhà em dán đầy giấy của bố.
Em rất yêu bố em. Bố em nấu canh chua cá lóc ngon nhất thế giới.
Cô giáo cho bài văn của em sáu điểm. Cô phê bằng mực đỏ: "Bài viết chân thật nhưng em cần đọc kỹ đề, đề bài yêu cầu tả ngoại hình và tính cách, không phải kể công việc. Lưu ý: em có nhầm bố với mẹ không?"
Em đọc lời phê ba lần mà không hiểu cô hỏi gì. Em tên ở nhà là Mỡ, vì hồi bé em béo, nhưng em không có ngốc. Em không nhầm. Bố em là bố em.
Em mang bài về khoe ông nội, vì bố đang bận nấu cơm. Ông nội em mới vào ở với nhà em được hai tuần.
Ông nội em tên là Đoàn Văn Toại, bảy mươi tám tuổi, quê ở Thái Bình. Bà nội em mất hồi tháng Tư. Bố em ra quê làm đám tang, rồi đón ông vào Biên Hòa ở hẳn, vì ông ở quê một mình. Ông đi máy bay lần đầu tiên trong đời. Hành lý của ông có một cái ba lô bộ đội, một cái chăn bông, một cái điếu cày, và một cái cối đá.
Cái cối đá to bằng cái nồi lẩu, nặng mười bốn ký, bố em cân thử. Ông phải gửi riêng theo đường hàng hóa, mất ba trăm nghìn tiền cước. Bố em hỏi ông mang cái này vào làm gì, trong này người ta có máy xay hết rồi. Ông nội không trả lời. Ông đặt cái cối ở góc bếp, cạnh cái thùng gạo, phủ lên một tấm khăn, rồi không đụng tới nữa.
Ông nội đọc bài văn của em. Đọc tới đoạn "Bố em làm nội trợ", ông dừng lại, đặt tờ giấy xuống.
– Thế bố mày không đi làm à?
– Bố em nghỉ làm hai năm rồi ông ạ. Công ty may của bố đóng cửa. Mẹ bảo bố ở nhà trông chị em con.
Ông nội không nói gì. Ông ngồi nhìn vào trong bếp, nơi bố em đang đeo cái tạp dề ca rô, đứng xào rau muống, vừa xào vừa hát một bài gì đó lạc giọng.
Tối hôm đó, lúc ăn cơm, ông nội nói một câu làm cả nhà im lặng:
– Đàn ông mà ở nhà đeo tạp dề, để vợ nuôi. Ở quê người ta cười cho thối mặt.
Bố em đang gắp cá cho em Cốm. Đũa của bố dừng lại giữa chừng. Mẹ em đặt bát xuống. Em Cốm ba tuổi không hiểu gì, vẫn đòi ăn cá.
Bố em gắp nốt miếng cá cho em Cốm, rồi nói:
– Con không thấy xấu hổ, bố ạ.
Ông nội em không nói gì nữa. Bữa cơm hôm đó, không ai khen canh chua ngon.
Đêm đó em nằm trên gác, nghe bố mẹ nói chuyện dưới phòng khách. Mẹ nói nhỏ nhưng giọng mẹ run. Mẹ nói con đi làm mười hai tiếng một ngày, về nhà còn phải nghe câu đấy à. Bố nói thôi em, bố mới mất mẹ, bố chưa quen. Mẹ nói chưa quen thì cũng phải biết nghĩ cho người khác. Bố không nói gì nữa. Em nghe tiếng bố rửa nốt cái nồi.
Mấy ngày sau, ông nội em không ngồi yên một chỗ nào. Ông quét sân từ sáng sớm, quét tới mức cô Sáu bên cạnh hỏi nhà em có giỗ à. Ông sửa cái vòi nước rỉ ngoài sân, thay cái bóng đèn cầu thang, đóng lại cái chân ghế lung lay. Việc gì ông cũng làm, trừ việc trong bếp. Có lần bố em bận tay bế em Cốm, nhờ ông tắt hộ nồi cơm, ông đứng ở cửa bếp, không bước vào, gọi to "Mỡ ơi, xuống tắt nồi cơm cho bố mày".
Em xuống tắt nồi cơm. Em nhìn ông. Ông nhìn cái cối đá phủ khăn ở góc bếp.
— Hết chương 1 —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt