Chương 3: Cái tủ sắt có khoá số
Cô làm xong nồi nước dùng bằng hũ ruốc mới. Cô múc ruốc bằng cái muỗng canh, nhắm mắt, cảm cái nặng ở cổ tay, bốn mươi gam, đổ vào. Cô nêm muối bằng cổ tay, đường phèn bằng cổ tay, rồi nếm bằng cái lưỡi còn lại: mặn vừa, ngọt hậu, cay nhẹ. Phần thơm, cô để cho cái cổ tay và cái đồng hồ lo. Lúc phi sả với dầu điều, cô không nhìn đồng hồ nữa mà nghe. Tiếng dầu reo lách tách, rồi dịu đi, rồi lặng hẳn trong một tích tắc, và cô nhấc chảo ra khỏi bếp đúng cái tích tắc ấy.
Ban giám khảo ba người đi một vòng, múc mỗi nồi một chén nhỏ. Hai thầy ở trường bên cạnh nếm, ghi điểm. Thầy Huân là trưởng ban. Thầy chạm môi vào chén, rồi đưa nó cho chị Liên giữ kho đang đứng sau lưng, như mọi buổi học thầy vẫn đưa muỗng cho học trò.
– Chị nếm coi. Nói tôi nghe.
Chị Liên nếm, mắt tròn ra.
– Thơm ruốc mà không gắt, thầy. Sả vừa. Ngọt xương. Giống bún bò mệ Tám ngoài chợ Đông Ba hồi trước.
Thầy gật, ghi điểm. Thoan cúi đầu xuống. Mệ Tám là nội cô.
Chiều hôm ấy, khi phòng bếp đã rửa sạch, sàn còn ướt, Thoan ở lại muộn để trả cái tạp dề của trường. Phòng thay đồ của giáo viên mở cửa. Thầy Huân đang đứng trước cái tủ sắt cuối dãy, cái tủ duy nhất có khoá số. Cánh tủ mở toang. Trong đó, trên ngăn giữa, cạnh một cái hộp nhựa đựng dao, có một cái cân tiểu ly màu bạc, cũ đến mức mặt số đã mờ, cạnh cân sứt một miếng.
Thầy nghe tiếng dép, quay lại. Hai thầy trò nhìn nhau qua cánh cửa tủ.
– Vô đây – thầy nói.
Thoan bước vào. Thầy lấy cái cân ra, đặt lên tay cô. Nó nặng hơn cái cân của cô, và cái nặng ấy là cái nặng của nhiều năm.
– Năm bốn mươi lăm tuổi – thầy nói, giọng đều, như đọc thực đơn – tôi đi xe máy về khuya, trên đường Lê Lợi, mưa. Té. Đập đầu vô lề đường. Nằm viện hai tuần. Ra viện, cái chi cũng còn, trừ cái mũi. Bác sĩ nói dây thần kinh ngửi nó đứt rồi, không nối lại được.
– Mười bảy năm…
– Mười bảy năm. Mười hai năm làm bếp trưởng không có mũi. Năm năm đi dạy không có mũi. Cả khách sạn không ai biết. Ở trường ni không ai biết. Trừ em, từ chiều nay.
Thoan nhớ lại. Cái đồng hồ hẹn giờ hình quả cà chua. Mỗi lần nếm là đưa muỗng cho học trò. Cái câu "nói tôi nghe". Cái lúc thầy đưa hũ ruốc lên ngang mặt mà không cúi xuống. Thầy không tra khảo học trò. Thầy mượn mũi học trò, mỗi ngày, suốt năm năm, và không đứa nào biết là mình đang cho mượn.
– Rứa răng thầy hất cái cân của em?
Thầy Huân đóng cửa tủ lại, xoay khoá số.
– Tại cái cân đó em cầm ở tay ngoài. Cái cân của tôi nằm trong tủ. Cái cân là để dạy cái tay, không phải để cái tay dựa vô. Tôi tập mười tám tháng mới bỏ được nó ra khỏi túi tạp dề. Bếp khách sạn tối thứ Bảy có ba trăm suất, không ai chờ em cân từng muỗng muối đâu. Em phải để nó ở nhà, đem cái tay đi.
– Còn cái mũi?
– Cái mũi thì đi mượn – thầy nói, rất bình thường. – Đầu bếp mô mà chẳng mượn. Bếp đông người, mượn chừ không ai biết mình đang mượn. Miễn là em biết em cần mượn cái chi, mượn ai, lúc mô. Sáng ni em biết. Em giơ tay.
Thoan nhớ ra cái chiều có mùi gas, thầy đứng ngay cạnh cái van hở mà phải chờ tiếng la mới quay lại. Cô định nói, rồi thôi.
Thầy cầm cái tạp dề của trường từ tay cô, treo lên móc.
– Tôi giấu mười bảy năm, Thoan. Không phải chuyện tốt. Em đừng giấu lâu rứa.
Ra tới cổng trường, cô thấy thằng Vũ ngồi trên yên xe đạp chờ, chân chống xuống đất. Nó gãi đầu.
– Hồi sáng tui nghe hết rồi. Bà khỏi lo. Năm sau đi làm, bà kêu tui ngửi giùm, tui ngửi cho.
– Ông thì ngửi cái chi cũng nói "thơm rứa trời".
– Thì tại nồi của bà thơm thiệt mà.
Thoan bật cười, lần đầu tiên trong ngày. Hai đứa dắt xe đi dọc đường Lê Lợi, gió từ sông Hương thổi vào, mang theo một mùi gì đó mà cô không biết, và thằng Vũ cứ chốc chốc lại tả cho cô nghe: mùi hoa sứ, mùi bắp nướng, mùi nước sông lúc chiều.
Tháng Sáu, Thoan ra trường, xin vào phụ bếp ở một nhà hàng chay nhỏ trên đường Đào Duy Anh, nơi bếp chỉ có bốn người. Hôm đầu tiên, cô nói với chị bếp chính trước khi mặc tạp dề: em không ngửi được, chị ạ, em cần chị ngửi giùm em những lúc em nhờ. Chị bếp chính trố mắt nhìn cô mấy giây, rồi bảo: được, nhưng đổi lại em canh lửa giùm chị, chị nghe nói em nghe dầu reo giỏi lắm.
Cái cân tiểu ly có đề can con cá vàng, cô để ở nhà, trên bậu cửa sổ bếp.
Cuối năm ấy nội ốm nặng. Một chiều mưa tháng Mười một, nội nằm trên giường, đòi ăn bún bò. Không phải bún bò ngoài hàng. Bún bò của nội. Thoan vào bếp, không cân gì, nấu một nồi nhỏ bằng cổ tay, bằng cái tai, bằng cái đồng hồ đã thôi không cần đeo. Lúc phi sả, cô gọi vọng ra:
– Mạ ơi, mạ ngửi giùm con. Tới chưa?
Mạ chạy vô, ghé mũi vào chảo, gật.
Cô bưng tô bún ra. Nội húp một muỗng nước, nhắm mắt lại rất lâu. Rồi nội nói, giọng run run như cái tay:
– Ai nêm rứa? Răng mà thơm y như hồi tau còn đứng bếp.
— Hết —

🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường