Chương 2: Bàn bên cạnh chậu cau kiểng
Tôi không làm gì cả. Thú thật lúc đó tôi muốn đi thẳng tới, kéo cái nón tai bèo của ba chồng xuống, nói với cô Bảy rằng cô ơi người cô cần gặp đang ngồi ngay trước mặt cô đó. Nhưng tôi không làm. Tôi đứng sau quầy pha chế, gọi một ly nước dừa, ngồi lên cái ghế đẩu cao, quay lưng lại, và lắng tai nghe.
Tôi là giáo viên tiểu học mười năm. Muốn biết chuyện gì xảy ra trong lớp, đừng hỏi. Ngồi im mà nghe.
Cái bàn sát lan can nói to, vì ông Tư Quới nói chuyện như hét qua tiếng máy ghe.
– Vựa khô của tui ở gần cảng, bà biết hông? – Ông Tư nói, tay chỉ ra biển. – Khô cá đù, khô cá chỉ vàng, khô mực, khô cá đuối. Mùa này cá đuối béo, phơi ba nắng là ngọt lịm. Tui làm vựa bốn chục năm, tay tui cầm con khô là biết nó phơi mấy nắng.
Ông Tư chưa từng cầm con khô nào. Tay ông chỉ cầm cờ lê.
– Dạ, hay quá. – Người phụ nữ mặc áo bà ba xanh lá chuối nói, giọng sang sảng. – Còn tui thì dạy văn ba chục năm. Học trò tui giờ làm bác sĩ, kỹ sư đầy hết. Tui dạy tụi nó thơ, thơ ông Nguyễn Đình Chiểu đó, Lục Vân Tiên đó, cái câu… cái câu gì mà… trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời… gái thời…
– Gái thời tiết kiệm là câu trau mình! – Ông Tư nhắc, rất tự tin.
– Ờ đúng rồi đó!
Ở bàn khuất sau chậu cau, tôi nghe tiếng cô Bảy Cúc khẽ thở dài, rồi một tiếng khúc khích nho nhỏ.
– Cô cười gì vậy cô? – Ba chồng tôi hỏi, giọng vẫn thì thào.
– Bạn tôi đó ông. – Cô Bảy nói khẽ. – Cái bà áo xanh đó. Tôi nhờ bả đi thay. Bả bán bánh canh ghẹ ở chợ, học tới lớp năm. Mà ông kia nhắc cũng sai luôn. Gái thời tiết hạnh, chứ ai đời tiết kiệm.
Ba chồng tôi im một lúc. Rồi ông bật cười, cái cười ồ ồ như loa phường mà ông cố nén xuống thành tiếng hự hự trong cổ.
– Cái ông áo bông bụp đó, – ông nói, – là bạn tui. Tui nhờ ổng đi thay. Ổng sửa máy ghe, cả đời chưa bán con khô nào. Vựa khô đó là vựa của tui.
Tôi ngồi sau quầy, suýt sặc nước dừa.
Cô Bảy quay hẳn sang nhìn ba chồng tôi.
– Ông là… ông là ông Tám Lợi?
– Dạ không. – Ba chồng tôi nói, nhanh như chớp. – Tui là bạn ổng. Ổng nhờ tui ra đây coi chừng thằng Tư, sợ thằng Tư nói bậy.
Tôi úp mặt xuống quầy. Người pha chế nhìn tôi như nhìn người bệnh.
Cô Bảy Cúc nhìn ba chồng tôi qua cặp kính đen của ông một lúc lâu. Rồi cô gật đầu.
– Vậy tôi cũng là bạn của cô Bảy. – Cô nói. – Cô Bảy nhờ tôi ra đây coi chừng con Mười.
Và hai người, hai cái người đã mất ba tháng để gật đầu đồng ý đi xem mắt, ngồi trong góc quán sau chậu cau kiểng, mỗi người đóng vai bạn của chính mình, bắt đầu nói chuyện.
Họ nói chuyện hai tiếng đồng hồ.
Tôi không nghe được hết, vì quán ồn, vì ông Tư Quới ở bàn ngoài cứ kể chuyện vựa khô to như hét. Nhưng tôi nghe được những đoạn này.
Tôi nghe ba chồng tôi kể về ông Tám Lợi. Ông kể như kể về người khác: ông Tám đó góa vợ bốn năm, tối nào cũng coi cải lương rồi khóc, ngại gặp người lạ, sợ nhất là bị người ta chê nói chuyện quê. Ông nói ông Tám đó thương con dâu lắm, con dâu ổng mua cho ổng cái áo bông bụp này nè, mà ổng sợ mặc ra đường người ta cười, nên đưa cho thằng Tư mặc.
Tôi nghe cô Bảy kể về cô Bảy Cúc. Cô cũng kể như kể về người khác: cô Bảy đó ở vậy chăm mẹ ba mươi năm, mẹ mất rồi mới biết nhà mình im quá, đêm nằm nghe tiếng thạch sùng mà giật mình. Cô nói cô Bảy đó sợ gặp ông Tám vì sợ ông chê mình già, chê mình khó, chê mình đọc sách nhiều quá mà không biết nấu canh chua.
– Không biết nấu canh chua thì ông Tám nấu. – Ba chồng tôi nói. – Ổng nấu canh chua cá bông lau ngon nhất xóm.
– Sao ông biết?
– Thì… bạn ổng. Ăn hoài.
Ở bàn ngoài, ông Tư Quới vẫn kể chuyện khô cá đuối. Bà Mười Thơm vẫn cầm cuốn sách ngược. Mặt trời bắt đầu xuống thấp, biển đỏ như nồi canh chua.
Gần sáu giờ, cô Bảy đứng dậy trước, nói cô phải về cho gà ăn. Ba chồng tôi đứng dậy theo, hai tay để thẳng như học trò. Cô gật đầu chào ông, đi ra cửa, đi ngang qua chỗ tôi ngồi mà không thấy tôi. Ba chồng tôi đứng nhìn theo, rồi ngồi phịch xuống ghế, tháo cặp kính đen ra, lau mồ hôi trán.
Hai người không xin số điện thoại của nhau. Hai người không nói tên thật. Hai người cứ thế mà về.
Còn ở bàn ngoài, ông Tư Quới với bà Mười Thơm thì đang cụng ly cà phê, cười ha hả, rồi đưa điện thoại cho nhau lưu số.
Tối đó, ba chồng tôi về nhà muộn. Ông không coi cải lương. Ông ngồi trước hiên, nhìn ghe vô, rất lâu. Tôi mang ra cho ông ly trà. Ông cầm ly trà, không uống, rồi hỏi tôi một câu, giọng không ồ ồ chút nào.
– Hà nè. Cái cô giáo con hẹn cho ba đó. Cô Bảy đó. Con có biết cô có người bạn nào gầy gầy, cao cao, hay đội nón lá, nói chuyện nhỏ nhẹ, biết câu thơ Lục Vân Tiên đọc cho đúng không?
Tôi nhìn ba chồng tôi. Ông nhìn ra biển, mặt đỏ như cái áo bông bụp.
– Dạ có. – Tôi nói. – Con biết.
— Hết chương 2 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe