Chương 3: Hai mươi ba cái tên
Ông Sang trả cho Hậu hai triệu tiền "cảm ơn", nói tháng sau qua làm thì nhận lương tám triệu. Hậu cầm tiền đi về, nhét vào đáy cái ba lô, không ngủ được.
Gần nửa đêm, cậu gọi cho má. Má cậu vừa tan ca tăng ca, giọng mệt, tiếng máy may ở xưởng bên cạnh vẫn còn rè rè trong điện thoại. Cậu nói con mới được thưởng, con gửi má ba trăm mua thuốc cho ba. Má hỏi thưởng gì. Cậu nói thưởng làm siêng. Má im một chút, rồi nói: "Ừ, con làm cho người ta đàng hoàng thì người ta thương." Cậu dạ, rồi cúp máy trước khi má nghe ra giọng cậu.
Đêm đó cậu vẫn ra bãi cỏ ngồi canh sương với chị Hân. Chị lật bánh, cậu lật bánh, không ai nói câu nào. Có một lúc chị hỏi cậu lạnh không, cậu nói không, mà tay cậu cứ run.
Ba ngày sau, ông Sang cho người lên Sài Gòn chào hàng hai mươi ba quán. Giá rẻ hơn chị Hân một nửa. Giao tận nơi. Để được hai tháng, quán khỏi phải đặt mỗi ngày, khỏi phải canh xe khách.
Hậu chờ. Cậu chờ chị Hân mất khách. Cậu chờ chị đuổi cậu. Cậu không biết mình chờ cái nào trước.
Nhưng tuần đó, hai mươi ba thùng bánh vẫn lên xe khách mỗi sáng. Tuần sau, vẫn hai mươi ba thùng.
Tới tuần thứ ba, sáng thứ Hai, chị Hân gọi Hậu ra sau lò, chỗ bãi cỏ phơi sương. Chị cầm điện thoại, mở cho cậu coi tin nhắn. Tin nhắn của chú Tư Mập ở Bình Thạnh, gửi từ tuần trước.
"Hân ơi, có người bên lò Sang lên chào hàng, có đủ tên quán, biết luôn giờ anh ra bến lấy hàng. Anh nói anh không lấy. Mà sao họ biết hết vậy em?"
Chị kéo xuống. Tin nhắn của quán Út Hương. Của Bò Tơ Sáu Đức. Của mười chín quán khác. Gần như cùng một câu hỏi.
Hậu đứng im. Sương chưa tan hết, cỏ dưới chân cậu ướt lạnh.
– Em chép. – Cậu nói. – Ông Sang trả em hai triệu.
Chị Hân gật đầu, như thể chị đã biết từ lâu.
– Chị biết. Cái tối em ngồi chép, chị thấy. Chị không nói vì chị muốn coi em có qua đó không.
– Sao chị không cản em?
– Cản thì em vẫn đi, chỉ là đi lén hơn. – Chị cất điện thoại vô túi áo. – Mà chị cũng muốn coi mấy quán đó có bỏ chị không. Mười tháng nay chị bán bánh cho họ, chị chưa từng hỏi họ một câu.
Hậu hỏi vì sao không quán nào bỏ.
Chị Hân ngồi xuống mép vỉ tre, ra hiệu cho cậu ngồi.
– Quán Tư Mập, ngày đầu chị giao bánh, chị gửi theo một tờ giấy ghi giờ bánh phơi sương xong: ba giờ mười lăm sáng. Chị dặn ảnh bánh này ăn hết trong ngày, dư thì ngày mai gửi xe khách về, chị trả tiền lại. Ảnh không tin, gửi về thử ba lần, lần nào chị cũng trả. Từ đó ảnh đặt đúng số ảnh bán được. – Chị nhặt một tấm bánh dưới vỉ, lật qua lật lại. – Chú Sáu Đức thì có một bữa khách ăn thấy bánh hơi chua. Chị lên tận quán, nếm, xin lỗi, về coi lại thì đêm đó sương nhiều, chị lật trễ. Chị kể thiệt với chú. Mấy quán đó không cần bánh rẻ hơn, em. Họ cần biết tấm bánh trên dĩa khách là tấm bánh phơi sương đêm hôm trước, ai phơi, lật lúc mấy giờ. Bánh hấp máy để hai tháng thì họ có lời hơn, nhưng họ không biết được cái đó.
Hậu cúi mặt. Cậu lấy trong túi quần ra hai tờ năm trăm ngàn với hai tờ hai trăm ngàn, với mấy tờ lẻ, đưa cho chị. Thiếu ba trăm ngàn, cậu đã gửi về cho má mua thuốc cho ba.
– Em không qua bên đó làm. Em trả lại tiền ông Sang. Chị đuổi em thì em chịu.
Chị Hân không cầm tiền.
– Tiền đó em trả ông Sang, không phải trả chị. Còn chị không đuổi em. – Chị đứng dậy, phủi quần. – Nhưng từ tối nay, em phơi sương một mình. Chị ngủ.
Bà Năm Khéo hỏi con gái có điên không. Một đứa nhỏ mười bảy tuổi, học việc chưa tới năm tháng, mới bán danh sách khách cho lò bên kia, giờ giao cho nó canh sương một mình, sáng ra hai mươi ba quán nhận bánh của nó.
Chị Hân nói: má, hồi con mười bảy tuổi má cũng giao con phơi sương một mình. Bữa đó con làm nhão hết ba trăm cái, má có đuổi con đâu.
Bà Năm im.
Mười giờ đêm, Hậu nhóm lò than trấu. Cậu hơ từng tấm bánh, xếp lên vỉ. Đêm nay có gió nhẹ từ phía ruộng mì thổi qua, trời không trăng, sao dày. Cậu ngồi xuống bãi cỏ, chờ.
Mười một giờ rưỡi, sương bắt đầu xuống. Cậu cúi sát mặt bánh, ấn ngón tay, nhớ lại từng câu chị Hân dặn. Đêm có gió thì sương thấm không đều, mép bánh ở phía gió mềm trước. Lật mép đó trước.
Hai giờ sáng, cậu lật vỉ cuối cùng. Ba giờ, cậu thấy đèn trong nhà chị Hân sáng lên, rồi tắt. Cậu biết chị đang đứng sau cửa sổ.
Ba giờ hai mươi, cậu gói xấp bánh cuối cùng, ghi giờ lên tờ giấy kẹp trong mỗi thùng xốp, chữ cậu xấu và nghiêng, nhưng rõ: ba giờ hai mươi sáng. Năm giờ, cậu tự chở hai mươi ba thùng ra đầu đường đón xe khách. Ở cổng lò ông Sang, cái máy hấp vẫn chạy ầm ầm, đèn led vẫn chớp. Thằng Tín đứng ở đó hút thuốc, thấy cậu chở thùng đi ngang, giơ tay chào. Cậu gật đầu.
Mười một giờ trưa, điện thoại của chị Hân có tin nhắn của chú Tư Mập. Chị đưa cho Hậu đọc.
"Bánh bữa nay hơi mềm một chút ở mép, khách không ai thấy, anh thấy. Thằng nhỏ nào ghi giờ chữ xấu vậy em?"
Chị Hân bấm trả lời, Hậu đứng bên cạnh nhìn chị gõ.
"Thằng nhỏ học việc của em. Tối nay nó lật mép phía gió trước."
Chiều đó, Hậu mượn xe của chị chạy qua lò ông Sang, đưa lại một triệu bảy. Ông Sang nhìn tiền, nhìn cậu, rồi cười, nói con khờ quá, tiền đã đưa thì thôi. Cậu để tiền trên bàn, nói ba trăm còn lại tháng sau cậu trả, rồi đi về, đi thẳng ra bãi cỏ sau lò, nằm ngủ một giấc trên mấy cái vỉ tre trống cho tới khi trời tối.
Mười giờ đêm, cậu dậy nhóm lò.
— Hết —

🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu