Chương 1: Mùa thu: bảy nghìn rưỡi
Bà Tơ đếm được mười bốn bậc thì cái bóng đèn trên đầu phụt tắt, và bậc thứ mười lăm biến mất.
Bà ngã sấp, hai đầu gối đập xuống bậc xi măng, túi hồng xiêm văng ra, lăn lộp độp xuống tận chiếu nghỉ tầng ba. Mười giờ mười lăm tối, mưa thu Hà Nội rả rích ngoài ô cửa thông gió, cầu thang khu tập thể cũ phố Nguyễn Công Trứ tối như hũ nút. Bà ngồi bệt ở đó, xoa đầu gối, chửi thầm cái bóng đèn bằng đủ thứ từ bà học được trong ba mươi năm bán vé ở ga Hà Nội.
Cánh cửa sắt tầng bốn kêu két một tiếng. Một vệt đèn pin rọi ra.
– Bà có sao không?
Là ông Cát, phòng 402, ông già góa vợ sống một mình, sáng nào cũng ra ban công chuồng cọp tưới mấy chậu rau răm với rau húng. Bà Tơ ở phòng 502, ngay trên đầu ông, đã hai năm. Hai năm, hai người nói với nhau chừng hai chục câu, toàn là "Bà đi chợ à", "Ông tưới rau à", "Mai cắt nước đấy".
– Không sao. Già rồi, ngã một cái cũng phải.
Ông Cát không nói gì. Ông đi xuống tầng ba nhặt từng quả hồng xiêm cho vào túi, đếm đủ mười hai quả, rồi rọi đèn pin dẫn bà lên đến tận cửa phòng 502. Lúc bà tra chìa vào ổ, ông đứng dưới chiếu nghỉ, ngửa cổ nhìn lên cái bóng đèn đen sì.
– Bóng cháy rồi. Mai tôi thay.
Sáng hôm sau, bà Tơ đi chợ về thì thấy cái bóng mới đã sáng. Bóng sợi đốt loại sáu mươi oát, ánh vàng như màu nước chè. Bà gõ cửa 402.
– Ông thay bóng hết bao nhiêu?
– Mười lăm nghìn.
Bà Tơ mở ví, lục lọi, đặt vào tay ông một tờ năm nghìn, một tờ hai nghìn và một tờ năm trăm đồng đã mềm như vải.
– Bảy nghìn rưỡi. Đèn chung thì chia đôi.
Ông Cát nhìn ba tờ tiền trong lòng bàn tay, nhìn bà, rồi nhìn ba tờ tiền lần nữa. Bà Tơ không biết vì sao ông cười. Ông cười không thành tiếng, chỉ có hai vai rung rung.
– Tờ năm trăm này giờ ít người tiêu lắm đấy bà ạ.
– Tôi không có tờ nào nhỏ hơn.
Ông gật đầu, cất tiền vào túi áo ngực, đóng cửa. Bà Tơ trèo lên tầng năm, nghĩ mãi không ra mình đã làm gì buồn cười.
Bà Tơ sáu mươi hai tuổi. Bà lấy chồng năm hai mươi ba, ly dị năm ba mươi mốt, nuôi con gái một mình. Con gái lấy chồng ở Đà Nẵng, năm về một lần vào dịp hè. Bà nghỉ hưu ở ga đã bảy năm, nhưng không chịu ngồi nhà. Bà xin trông quầy cho một nhà thuốc ở đầu phố Bà Triệu từ sáu giờ chiều đến mười giờ tối. Lương ba triệu một tháng, đủ tiền chợ, còn hơn ngồi nhà nghe tiếng quạt trần.
Vì thế đêm nào bà cũng về lúc mười giờ mười lăm. Đêm nào cũng trèo năm tầng cầu thang, chín mươi tư bậc, bà đếm thuộc lòng.
Từ sau đêm ngã, bà để ý cái bóng đèn. Không phải vì bà nghi ngờ gì. Chỉ là người đã từng ngã một lần thì để ý chỗ mình ngã.
Bà để ý thấy cái bóng đèn chiếu nghỉ tầng bốn không phải lúc nào cũng sáng. Ban ngày nó tắt. Chín giờ tối, lúc bà còn ở nhà thuốc, bà Liên tầng ba bảo nó tắt. Nhưng mười giờ mười lăm, lúc bà về đến chân cầu thang, ngẩng lên, nó đã sáng.
Bà nghĩ là ban quản lý khu lắp hẹn giờ. Bà hỏi bà Liên tầng ba, người được cả khu gọi là "đài phát thanh tầng ba" vì không chuyện gì trong khu lọt qua được tai bà.
– Hẹn giờ gì mà hẹn giờ. – Bà Liên cười khẩy. – Khu này đèn cầu thang nhà nào nhà nấy kéo dây từ công tơ nhà mình ra. Đèn tầng một là nhà ông Thịnh, tầng hai nhà cô Hoa, tầng ba nhà tôi. Đèn chiếu nghỉ tầng bốn là dây nhà ông Cát. Công tắc nằm trong nhà ông ấy.
Bà Tơ đứng ở chiếu nghỉ tầng ba, cầm túi rau muống, ngửa cổ nhìn lên. Sợi dây điện đen chạy dọc tường, luồn qua một cái lỗ khoan cạnh khung cửa phòng 402.
Bảy nghìn rưỡi. Đèn chung thì chia đôi.
Bà không tin ngay. Bà Tơ ba mươi năm bán vé tàu, đã nghe đủ chuyện người ta kể, tin chuyện gì cũng phải tận mắt thấy cái vé.
Tối thứ Tư, bà xin chủ nhà thuốc về sớm. Chín giờ bốn mươi, bà đứng ở chân cầu thang, ngẩng lên. Năm tầng tối om, chỉ có ánh đèn đường hắt qua mấy ô cửa thông gió. Bà bước lên, cố tình bước mạnh chân, đế dép nhựa gõ vào bậc xi măng lộp cộp. Tầng một. Tầng hai. Đến bậc thứ ba của tầng hai, phía trên đầu bà, tít trên cao, có tiếng "tách" rất nhỏ. Cái bóng chiếu nghỉ tầng bốn bừng sáng.
Thứ Năm, bà về lúc mười giờ năm mươi, rón rén, cởi dép cầm tay, đi chân đất. Cầu thang tối đến tận tầng ba. Bà dừng lại ở chiếu nghỉ tầng ba, đứng im, nín thở. Bà nghe thấy, sau cánh cửa 402, tiếng một cái ghế gỗ kẽo kẹt, như có người đang ngồi cạnh cửa, ngồi lâu đến mỏi, đổi tư thế. Bà đặt dép xuống, xỏ chân vào, bước mạnh một bậc. "Tách."
Bà đứng dưới ánh đèn vàng màu nước chè, tay xách dép, thấy mình như một đứa trẻ bị bắt quả tang ăn vụng, dù người ăn vụng không phải là bà.
Hai năm nay, mỗi tối, có người bật đèn cho bà bằng điện nhà mình. Và bà vừa trả người ta bảy nghìn rưỡi.
— Hết chương 1 —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình