Chương 3: Dải vải trắng
Hoài Sa chạy vào lều khi Đinh Hựu gầm lên tên cô.
Cô quỳ xuống cạnh chõng. Đinh Tường mặt xám, thở nông, mạch cổ tay nhỏ như sợi chỉ. Cô kéo áo cậu lên. Ở hông trái, dưới mép sườn, có một vết bầm tím to bằng bàn tay, mép đã loang ra. Không có vết rách. Không có giọt máu nào. Cậu ta đã bị một cái chùy hay một đầu cán giáo thúc vào sườn trong trận phục kích, và cái lá lách bên dưới đang chảy máu vào trong bụng, lặng lẽ, suốt bốn canh giờ.
Cô đã buộc dải vàng cho cậu. Cô đã không kéo áo cậu lên. Cô nhìn thấy vết thương ở tay, thấy máu đã ngưng, thấy cậu cười, và cô vội. Ở khoa cấp cứu, cô sẽ có máy siêu âm, sẽ có bác sĩ ngoại sờ bụng, sẽ có phòng mổ cách đó hai tầng lầu. Ở đây, cô có hai bàn tay, và hai bàn tay của cô đã bỏ sót.
– Mụ chữa được không? – Đinh Hựu hỏi. Giọng gã không còn gầm. Nó thấp và vỡ.
Cô muốn nói được. Cô không nói được. Cô biết mình không mở bụng được ai ở đây.
– Tôi không chữa được. – Cô nói. – Không ai ở đây mở bụng được. Chỉ có thể để cậu ấy nằm yên tuyệt đối, kê cao chân, ủ ấm, không cho ăn uống gì, rồi chờ. Có người máu tự ngưng. Có người không.
Đinh Hựu nhìn cô một lúc. Rồi gã quay sang ông Mão.
Ông Mão không nói gì. Ông mở tráp, lấy ra một gói giấy, bảo đứa phụ việc đi đun một nồi nước. Rồi ông ngồi xuống đất, cạnh chõng, ba ngón tay vẫn đặt trên cổ tay Đinh Tường. Ông ngồi như thế suốt đêm. Thỉnh thoảng ông nói một câu: mạch chưa tụt thêm. Mạch vẫn thế. Mạch hơi đầy lên.
Hoài Sa kê chân cậu lên bằng hai cái gối rơm, đắp lên người cậu ba lớp chăn chiên, chà xát hai bàn chân lạnh ngắt. Cô ngồi phía bên kia chõng, đếm nhịp thở. Giữa cô và ông Mão là một người đang chết, và cả hai người đều biết mình không đủ.
Đến canh tư, ông Mão nói mạch đã đầy lên rõ. Đến khi gà gáy, Đinh Tường mở mắt, đòi nước. Cô không cho uống, chỉ thấm ướt môi. Cậu chửi thề một câu, giọng yếu nhưng rõ, và Đinh Hựu, người mà cả đồn sợ, ôm mặt ngồi sụp xuống bậc lều.
Trời sáng hẳn, Hoài Sa mới nhớ ra lão Sừ.
Cô đã bỏ lão nằm một mình ở cuối sân từ canh hai. Lão là dải trắng. Cô đã quyết định. Cô đã nắm tay lão, bảo lão nằm yên, rồi cô đi. Đó là cái giá của phân loại, cô vẫn bảo những người mới vào khoa như vậy: cậu phải biết thả tay ra, để cứu người khác.
Cô đi ra cuối sân. Cái chiếu của lão Sừ trống không.
Cô đứng đó, tim đập thình thịch. Rồi cô nghe tiếng ho khục khặc từ trong lều bếp. Lão Sừ đang nằm trên đống rơm cạnh bếp lửa, người đắp kín chăn, hông quấn một tấm băng to tướng tẩm thuốc vàng. Bên cạnh lão là một bát cháo đã vơi một nửa.
– Ông Mão bế tôi vào. – Lão thều thào khi thấy cô. – Lúc canh hai. Ông bảo ngoài sân gió lạnh.
Lúc canh hai. Lúc ông Mão vừa từ chõng thằng Tường đứng dậy đi đun nước. Ông đã ghé qua cuối sân. Ông đã nhìn thấy cái dải vải trắng trên cổ tay lão, và ông đã không đồng ý với nó.
Hoài Sa quay lại lều thuốc. Ông Mão đang ngồi ăn bát cháo của mình, tay vẫn run run vì thức trắng.
– Mũi giáo đó đâm xuyên qua mà không thủng ruột. – Ông nói trước khi cô kịp hỏi. – Tôi nghe bụng lão, không có tiếng óc ách, không có mùi. Ba mươi năm tôi gặp chín người bị giáo đâm chỗ ấy. Năm người sống. Cô không biết. Ở chỗ cô đến, chắc người ta không bị giáo đâm.
Cô ngồi xuống cạnh ông. Cô không hỏi ông biết gì về chỗ cô đến. Cô chỉ nói ra câu mà cô không ngờ mình sẽ nói ở đây:
– Ông dạy tôi nghe bụng. Tôi chỉ ông cách buộc dây ghi giờ.
Ông Mão gật đầu, húp nốt bát cháo.
Trưa hôm đó, quan phòng ngự ở phủ cho người lên hỏi vì sao cờ hiệu đồn Đá Vôi không còn trên cột. Xé cờ hiệu là tội. Mấy tay lính già đứng xì xào sau bếp, bảo cờ bị xé là điềm gở, bảo con mụ Mủng từ hôm ốm dậy đã khác, mắt nó nhìn người như nhìn đồ vật. Hoài Sa nghe hết. Cô biết ở một chỗ thế này, chỉ cần một câu là đủ thành án.
Đinh Hựu tiếp người nhà phủ ở sân. Gã đứng nghiêm, nói rằng lá cờ rách vì đạn trong trận phục kích, gã cho hạ xuống làm băng buộc thương binh, gã chịu tội. Người nhà phủ ghi lại, rồi hỏi đồn mất bao nhiêu người. Gã nói mười một trong mười hai người nặng nhất còn sống. Người nhà phủ ngẩng lên khỏi tờ giấy, nhìn gã một lúc, rồi không hỏi về lá cờ nữa.
Tối hôm ấy, thằng Chút, vai băng một cục to tướng, mang tới lều bếp một bó vải đỏ, một bó vải vàng. Nó bảo anh em trong đồn mỗi người góp một mảnh, khăn chít đầu, dây lưng, vạt áo, để lần sau cô khỏi phải xé cờ.
Năm ngày sau, lão Sừ đi lại được, chống một cây gậy tre. Lão tìm cô ngoài giếng, đưa cho cô một dải vải trắng, đã giặt sạch, gấp làm tư.
– Vải tang chồng cô. – Lão nói. – Ông Mão bảo tôi phải trả. Cô cất đi, mà lần sau buộc ai, cô cứ để ông lão ấy nhìn qua một lượt.
Chiều hôm đó, Đinh Hựu cho dựng một cột gỗ mới trên đồn, treo một lá cờ hiệu mới. Bên dưới lá cờ, gã cho đóng một cái hòm gỗ, trong hòm là bốn bó vải: đỏ, vàng, xanh, trắng. Gã ra lệnh cho cả đồn: từ nay, có trận về, Mủng buộc vải trước, ông Mão chữa sau. Riêng dải trắng, chỉ buộc khi có cả hai người cùng gật đầu.
Hoài Sa cất dải vải tang vào đáy hòm, dưới cùng. Đêm ấy cô nằm trên chõng tre trong lều bếp, nghe tiếng trống canh đầu, tiếng lão Sừ ngáy ở đống rơm, và lần đầu tiên từ ngày đến đây, cô ngủ một mạch tới sáng.
— Hết —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe