Chương 2: Con ngỗng và quả trứng
Thầy đồ Mậu dạy hai mươi cậu con trai ở đình làng, học phí mỗi năm hai thúng thóc. Thầy không ghét cô Nhài. Thầy từng là bạn văn của ông tú Ứng, đã đến thắp hương ông tú bốn mươi chín ngày. Nhưng một buổi chiều tháng Năm, thầy đi ngang hiên nhà ông tú, thấy hai chục đứa con gái ngồi vẽ những hình thù kỳ lạ xuống cát, miệng đọc lẩm nhẩm. Thầy đứng nhìn lâu, rồi đi thẳng ra nhà lý trưởng.
Lý trưởng Kiều Văn Đạo ba mươi tám tuổi, người to, giọng to, quản cái làng hai trăm mười hai hộ bằng tiếng quát và một cuốn sổ đinh. Ông không phải người ác. Ông chỉ là người sợ chuyện lạ. Năm ngoái làng bên có người đàn bà lên đồng nói nhảm, huyện về bắt cả lý trưởng làng ấy lên tra hỏi. Ông Đạo nhớ chuyện ấy.
Sáng hôm sau, ông Đạo đứng ở sân nhà ông tú, cùng thầy đồ Mậu và hai người tuần. Ông dẫm một bàn chân lên chữ số trên cát.
– Cô Nhài, – ông nói, – đây là cái gì?
– Thưa ông lý, đây là số. Số ba. Số bảy. Số không.
– Số gì mà có quả trứng với con ngỗng? – ông quay sang thầy đồ. – Thầy xem có chữ này trong sách nào không?
Thầy đồ Mậu lắc đầu. Thầy nói, giọng chậm và buồn, như người nói điều mình không muốn nói:
– Không có trong sách nào tôi từng đọc. Tôi không dám bảo là bùa. Nhưng nó không phải chữ của mình.
Ông Đạo quay lại, nhìn hai chục đứa con gái đang co rúm trên chiếu. Rồi nhìn cô Nhài.
– Con gái học chữ đã là chuyện không nên. Lại học thứ chữ không ai biết là gì. Huyện mà nghe được, làng này mang tiếng tà thuật. Từ mai đóng lớp.
Cô Nhài không cãi. Tôi nhớ mãi cái lúc ấy. Cô không khóc, không quỳ, không kể lể. Cô chỉ cúi xuống, lấy bàn tay xóa hết những con số trên mặt cát, xóa rất kỹ, đến khi mặt cát phẳng lì. Rồi cô đứng dậy nói:
– Thưa ông lý, chữ số ấy tôi không dạy nữa. Nhưng lớp thì xin ông cho dạy tiếp. Tôi chỉ dạy các cháu đếm que.
– Đếm que cũng là học. Đóng.
Lớp đóng. Nhà chồng cô Nhài, vốn đã không thích có một bà góa trẻ đem con gái người ta về hiên nhà, nhân dịp ấy đòi lại gian nhà ông tú, bảo để làm nhà thờ. Cô Nhài dọn ra cái chuồng trâu bỏ không ở cuối xóm Bến, ngay sau nhà tôi, quét dọn, đắp lại vách. Cô sống bằng việc viết thư thuê cho mấy bà vợ lính. Và bó que tre của chúng tôi, cô bảo đứa nào thích thì cứ mang về nhà.
Tôi mang về. Tối nào tôi cũng ngồi bên bếp đếm que, cộng tiền cá cho mẹ, tính xem hôm nay người ta lại lừa mẹ bao nhiêu. Không có cô, không có lớp, không có số con ngỗng, chỉ có một trăm que tre và mười sợi lạt.
Mùa thu năm ấy, nước sông Cái lên.
Lên ba ngày ba đêm, tràn qua bờ bãi, nhấn chìm xóm Bến tới ngang ngực người. Nhà tôi dỡ mái lá kết bè, cả nhà chín người ngồi trên bè buộc vào gốc gạo hai ngày đêm. Lúc nước rút, ruộng trắng như sân phơi, lúa non chết hết, kho thóc của làng ngập mất một nửa.
Ngày thứ năm sau lũ, quan huyện cho người về báo: sáng ngày kia quan về tận làng Cự Phong phát chẩn, ba trăm thúng gạo. Gạo chia theo miệng ăn. Lý trưởng phải trình số miệng ăn của từng hộ.
Chiều hôm ấy tôi nghe cha tôi nói chuyện với mấy ông hàng xóm ở bờ ao. Ông lý không có số miệng ăn. Ông chỉ có sổ đinh, ghi đàn ông từ mười tám tuổi trở lên, để bắt lính, bắt phu, đánh thuế. Đàn bà, con gái, trẻ nhỏ, người già không ai ghi. Một ngày rưỡi thì đi đếm hai trăm mười hai hộ, nhiều nhà còn đang tản trên đê, ở nhờ chùa, ở nhờ làng bên, làm sao kịp.
– Không kịp thì ông ấy trình sổ đinh, – một ông nói. – Chia theo đinh.
Cha tôi im lặng rất lâu. Rồi ông nói, giọng như người ta đọc tên một món nợ:
– Nhà tôi chín miệng ăn. Sổ đinh có một.
Tối ấy tôi không ngủ được. Tôi ngồi dậy, lấy bó que tre ra, đặt lên mặt chiếu ướt. Tôi rút ra chín que. Tôi nhìn chín que ấy hồi lâu.
Rồi tôi ôm bó que chạy sang cái chuồng trâu cuối xóm.
— Hết chương 2 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe