Chương 3: Bữa trưa ngày thứ ba mươi hai
Trong núi ăn: cháo trắng, cá khô, mỗi người thêm một miếng cơm cháy. Ngoài núi ăn: cũng thế.
Cuộc nói chuyện không diễn ra vào ngày thứ hai mươi như chưởng môn muốn. Đại sư huynh Xích Diễm Môn là Hầu Chấn, Kết Đan hậu kỳ, người đứng đầu đạo quân vây núi, cho người lên trả lời: chưa cần nói chuyện. Hắn còn chờ được.
Hắn chờ thêm mười một ngày. Mười một ngày ấy, trên tường thành phía nam, mỗi tối vẫn có một chảo đồ thơm. Dưới thung lũng, mỗi đêm lại tắt thêm mấy ngọn đèn lều. Đệ tử Xích Diễm bỏ trại ban đêm, lẻn về theo đường núi phía tây. Ngày thứ hai mươi tám, cả trại còn chưa tới hai trăm người. Kho gạo trong núi còn đủ cho mười hai ngày cháo. Trận hộ sơn còn mười bảy ngày. Bà Nếp bắt đầu ngủ ít đi.
Ngày thứ ba mươi mốt, Hầu Chấn cho người lên xin nói chuyện. Hắn đặt một điều kiện lạ: mỗi bên được dẫn theo hai người, gặp nhau ở bãi đá trước cổng trận, giờ Ngọ ngày mai. Chưởng môn dẫn theo trưởng lão Kho và bà Nếp. Hầu Chấn dẫn theo một phó đường chủ mặt dài, và một ông già gầy như que củi, tạp dề đen, tay áo xắn tới khuỷu.
Hai bên ngồi xuống hai tảng đá. Hầu Chấn mở lời, giọng còn cứng.
– Xích Diễm Môn còn đủ người đứng đây một năm.
– Ông đứng được. – Chưởng môn Bùi đáp. – Nhưng ông ăn bằng gì?
Hầu Chấn không đáp. Ông già tạp dề đen đứng sau lưng hắn khẽ ho. Bà Nếp nhìn ông già, ông già nhìn bà. Không ai bảo ai, hai người cùng bước ra khỏi hàng, đi sang một bên, ngồi xuống một tảng đá khác, cách chỗ các thủ lĩnh chừng mười bước.
– Bà là người phi mỡ hành. – Ông già nói. Giọng ông khàn, miền xuôi.
– Ông là người rang cám. – Bà đáp. – Rang khéo lắm. Không cháy hạt nào.
– Đới. Ba mươi năm nấu cho Xích Diễm. – Ông già nói. – Cám ấy cũng là cám ngựa, thưa bà. Ngựa chết hết từ tuần trước.
Ông nói câu ấy bình thản như người ta nói giá rau.
– Tôi biết. – Bà Nếp nói. – Hôm kia hết mùi cám, chỉ còn mùi rễ sắn rừng. Tôi biết rễ ấy, nấu không kỹ là say.
– Tôi nấu kỹ. – Ông Đới gật đầu. – Nhưng không phải ai cũng chịu chờ tôi nấu kỹ. Tuần này có mười sáu đứa say.
Hai người ngồi im một lúc. Ở chỗ các thủ lĩnh, giọng Hầu Chấn mỗi lúc một to, giọng chưởng môn Bùi mỗi lúc một chậm. Bà Nếp và ông Đới không nghe họ.
– Thằng Chấn không lui được. – Ông Đới nói. – Nó thề với sư phụ nó là lấy được suối Ngọc Tuyền. Bây giờ về tay không, nó mất mặt. Nó mà không lui, ở dưới ấy còn một trăm chín mươi đứa, mười hôm nữa thì chết đói, hoặc chết say sắn.
– Bên tôi cũng chẳng còn lâu. – Bà Nếp nói thật. Bà không biết vì sao bà nói thật với ông già này, có lẽ vì hai mươi sáu năm nay chưa ai ngồi nói chuyện bếp với bà. – Kho còn chín ngày cháo. Trận còn mười bốn ngày.
Ông Đới bật cười, cười tới mức ho sù sụ.
– Thế thì bà phi mỡ hành làm gì?
– Phi một chảo thì tốn hai lạng mỡ. Hai lạng mỡ mà đổi được một trăm đứa bên ông bỏ về thì rẻ.
Ông Đới gật gù như người thợ khen tay nghề người thợ.
– Đêm nào nghe mùi mỡ hành, thằng Chấn cũng ra đứng trước lều, nhìn lên tường thành nhà bà. – Ông nói. – Có đêm nó đứng tới canh ba. Tôi hỏi nó nhìn gì, nó bảo nhìn xem trên ấy có bao nhiêu bếp. Tôi không nói với nó là chỉ có một bếp. Ba mươi năm nấu ăn, tôi biết một chảo phi hành thơm tới đâu.
– Thằng Chấn nó cần một cớ để lui. – Ông nói. – Bà cho nó một cớ.
Bà Nếp nghĩ một lúc. Rồi bà đứng dậy, đi sang chỗ các thủ lĩnh, chen vào giữa câu chửi của Hầu Chấn.
– Thưa đại sư huynh. Thạch Bàn Tông không giao suối. Nhưng Thạch Bàn Tông mời quý môn ăn một bữa trước khi về. Ăn xong thì về. Cả vùng sẽ nói rằng Xích Diễm Môn vây núi ba mươi hai ngày, Thạch Bàn Tông phải mở cổng dọn cơm mời. Ai nghe cũng hiểu là bên nào phải nhún.
Hầu Chấn nhìn bà. Chưởng môn Bùi nhìn bà. Trưởng lão Kho thì nhìn chưởng môn, mặt tái đi vì biết rõ trong kho còn bao nhiêu.
– Bữa gì? – Hầu Chấn hỏi, giọng vẫn cứng, nhưng mắt không cứng.
– Cháo trắng, cá khô, cơm cháy. – Bà Nếp nói. – Thạch Bàn Tông ăn gì thì quý môn ăn nấy. Ba mươi hai ngày nay chúng tôi ăn thế.
Trưa ngày thứ ba mươi hai, cổng trận hộ sơn mở một khe hẹp. Thạch Bàn Tông khiêng xuống mười hai nồi cháo, sáu sọt cá khô và một sọt cơm cháy, thứ cuối cùng còn lại trong kho có thể gọi là món. Một trăm chín mươi đệ tử Xích Diễm ngồi trên bãi đá trước cổng, húp cháo. Không ai nói câu nào. Hầu Chấn ăn hai bát. Bát người ta đưa cho hắn là bát của Kiếm Đường, to gấp rưỡi. Trưởng lão Kho nhìn thấy, mấp máy môi định nói, rồi thôi, chỉ quay mặt đi chỗ khác. Ông Đới ăn một bát, chậm rãi, rồi xin bà Nếp thêm một miếng cơm cháy để nếm cho biết.
Chiều hôm ấy, Xích Diễm Môn nhổ trại.
Trước khi đi, ông Đới lên tới chân tường thành phía nam, gọi bà Nếp. Bà đưa cho ông một gói lá chuối, trong có một nắm muối vừng và một nhúm gốc hành, gốc trắng, rễ còn dính đất.
– Hành cắt sát gốc, ba hôm lại lên. – Bà nói. – Cắm xuống chỗ đất ẩm là sống.
Ông Đới cầm gói lá, ngửi. Rồi ông chắp tay vái bà một cái, không vái kiểu tu sĩ, mà vái kiểu người làm bếp vái nhau ở chợ quê ngày giáp Tết.
Mùa xuân năm sau, đệ tử Thạch Bàn Tông xuống thung lũng phía nam lấy củi. Họ về kể với bà Nếp: chỗ trại Xích Diễm ngày trước có một đám hành mọc thành vạt, ngay cạnh ba hòn đá kê bếp ám khói. Không biết ai trồng. Ba hôm cắt một lần, vẫn lên.
— Hết —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn